- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Nguyễn Thị X"
- Tòa quyết gì? 1/- Đình chỉ giải quyết việc xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-VDS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 102 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 551/2024/QĐPT-VDS | Tiền Giang, ngày 19 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để thi hành án
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Lưu Thị Thu Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình
Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Hồng Chi – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Xuân Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 423/2024/TLPT-VDS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để thi hành án”.
Do Quyết định giải quyết việc dân sự số: 06/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số: 498/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1.Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số B Đ, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1969;
2.2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969;
2.3. Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1992;
2.4. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2.5. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hứa Văn B. Chức vụ: Chi cục trưởng.
3. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh H.
4. Cơ quan kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Có mặt anh H và ông A1. Vắng bà L, ông S, anh V và ông B).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
*Theo Quyết định sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị X có người đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Hoàng A trình bày:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 72/2012/DS-ST ngày 13/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang buộc bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S trả 105.107.000 đồng cho bà Nguyễn Thị X, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật; kể từ ngày bà Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S chậm thi hành án số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Quá trình thi hành án, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S không tự nguyện thi hành án.
Ngày 20/3/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C có thông báo số 327/TB-CCTHADS về việc phân chia tài sản chung để thi hành án cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Thanh V, anh Nguyễn Thanh H được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung là thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2, loại CLN tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007 nhưng bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Thanh V, anh Nguyễn Thanh H không khởi kiện nên chấp hành viên tiếp tục ban hành thông báo cho người được thi hành án được quyền khởi kiện theo quy định pháp luật. Nay bà Nguyễn Thị X yêu cầu xác định quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L trong khối tài sản chung là thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị L trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007 là của gia đình cha mẹ chồng bà cho hai vợ chồng nhưng giấy đất cấp cho hộ gia đình nên đây là tài sản chung của hộ gia đình, hộ gia đình bà gồm 04 người vợ chồng bà và 02 con là Nguyễn Thanh V, Nguyễn Thanh H. Do đây là tài sản chung của 04 người nên mỗi người chỉ có ¼ quyền sở hữu. Nay bà X yêu cầu xác định thửa đất là tài sản của vợ chồng bà, bà không đồng ý.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang trình bày:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 72/2012/DS-ST ngày 13/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang buộc bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S trả 105.107.000đồng cho bà Nguyễn Thị X, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật và lãi suất chậm thi hành án. Do bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên tiến hành xác minh và xác định bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S có tài sản là thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đã thông báo để người được thi hành án là bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu Toà án xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất nêu trên của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S trong khối tài sản chung để thi hành án.
Nay bà X khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S đối với thửa đất 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xác định và phân chia rõ, cụ thể phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh S trong khối tài sản chung để thi hành án.
* Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 102; Điều 212 Bộ luật Dân sự; Điều 74 Luật Thi hành án dân sự, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị X.
- Xác định thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L.
Ngoài ra, Quyết định còn tuyên về lệ phí Toà án và quyền kháng cáo của các đương sự, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định.
- Ngày 07/8/2024, anh Nguyễn Thanh H có đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xác định lại thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L là tài sản chung của hộ gia đình gồm 04 thành viên: ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Thanh V và anh Nguyễn Thanh H.
- Ngày 01/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-VDS, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần Quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L là tài sản chung của ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Thanh V và anh Nguyễn Thanh H..
* Tại phiên họp:
- Anh Nguyễn Thanh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Hội đồng phúc thẩm sửa một phần quyết định sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang xin rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-VDS ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Nguyễn Hoàng A (đại diện uỷ quyền của bà Nguyễn Thị X) không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H; không có ý kiến đối với việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng phúc thẩm giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm căn cứ điểm a, điểm đ khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử: Đình chỉ giải quyết việc xét đơn theo thủ tục phúc thẩm do Viện kiểm sát đã rút kháng nghị; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H; Giữ nguyên quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang còn trong thời hạn quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C và anh Nguyễn Thanh V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, vì vậy Hội đồng phúc thẩm vẫn mở phiên họp theo quy định.
. Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát rút Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-VDS ngày 01tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang, do vậy Hội đồng phúc thẩm căn cứ vào điểm đ khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết việc xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát.
. Xét yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H, Hội đồng phúc thẩm nhận thấy:
Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thể hiện:
- Nguồn gốc thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang là của bà Nguyễn Thị B1 (chị ruột của ông Nguyễn Thanh S) tặng cho hộ ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị L.
- Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L ngày 08/01/2007 (bút lục 35) thể hiện nội dung: “chị cho em ruột”. Quá trình giải quyết vụ việc các đương sự thừa nhận thửa đất nêu trên là của bà Nguyễn Thị B1 tặng cho ông Nguyễn Thanh S. Trên cơ sở hợp đ8ồng, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : H 01193 ngày 16 tháng 01 năm 2007. Tại thời điểm cấp giấy đất, hộ ông S, bà L có 04 thành viên gồm: bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Thanh V, anh Nguyễn Thanh H nhưng anh V (sinh năm 1992) mới 15 tuổi và anh H (sinh năm 1999) mới 08 tuổi, không có công sức đóng góp, tạo lập đối với tài sản của hộ gia đình nên thửa đất số 3498 nêu trên không phải là tài sản chung của hộ gia đình gồm 04 thành viên, mà chỉ là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L.
Tại phiên họp anh H cũng thừa nhận anh không có công sức đóng góp hay tạo lập tài sản của hộ gia đình vì lúc đó anh còn rất nhỏ; thửa đất nêu trên là loại đất trồng cây lâu năm đã bỏ trống nhiều năm không ai canh tác, không có nhà cửa trên đất, cho nên việc thi hành án không làm ảnh hưởng đến đời sống của hộ gia đình anh H.
Từ những nhận định như đã nêu trên, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
. Về lệ phí: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu lệ phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, điểm đ khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 102, Điều 212 Bộ luật Dân sự; Điều 74 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Đình chỉ giải quyết việc xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-VDS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2/-Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H.
Giữ nguyên Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị X.
Xác định thửa đất số 3498, tờ bản đồ số 01, diện tích 103,7m2 tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L ngày 16/01/2007 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị L.
3/- Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 10927 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng lệ phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0011648 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
4/- Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; SỰ - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Lưu hồ sơ việc dân sự | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lưu Thị Thu Thủy |