vanban.org

Quyết định 55/2022/QĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Bà Lê Thị Kim D và ông Nguyễn Huy H. 2.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M – sinh ngày 24/4/2002, Nguyễn Huy H – sinh ngày 24/8/2009 và Nguyễn Tuấn H – sinh ngày 28/3/2013. Khi ly hôn hai bên thống nhất giao con chung Nguyễn Tuấn H và Nguyễn Huy H cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ tuổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Bà Lê Thị Kim D và ông Nguyễn Huy H. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 55 /2022/QĐ -STVinh, ngày 29 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 337/2022/TLST/HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021, giữa: Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim D - Sinh năm 1977 Nơi ĐKNKTT: Khối 9, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Bị Đơn: Ông Nguyễn Huy H - Sinh năm 1975 Nơi ĐKNKTT: Khối 9, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Căn cứ vào điều 28; điều 147; 212 và điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 51, 55, 58, 59, 81, 82, 83, 107, 110, 116 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 3 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 3 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Bà Lê Thị Kim D và ông Nguyễn Huy H. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M – sinh ngày 24/4/2002, Nguyễn Huy H – sinh ngày 24/8/2009 và Nguyễn Tuấn H – sinh ngày 28/3/2013. Khi ly hôn hai bên thống nhất giao con chung Nguyễn Tuấn H và Nguyễn Huy H cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Ông H cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Tuấn H 1.500.000/tháng và Nguyễn Huy H 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 4/2022 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Ông H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản: Hai bên thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà D thỏa thuận chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Bà D đã nộp đủ dự phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL số 0009668 ngày 16/11/2021. Hoàn trả lại cho bà D số tiền 9.200.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL số 0009668 ngày 16/11/2021. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ