- Tranh chấp gì? "yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 57/2021/QĐST-HC ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 55/2022/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Mai Anh Tài.
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Tự Học;
Ông Nguyễn Vũ Đông.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Lê Đỗ Quyên, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 57/2021/QĐST-HC ngày 29 tháng 9 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh T đã căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 143, Điều 144 và Điều 145 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị C, sinh năm 1957; địa chỉ: số nhà 680, tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh T.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh T; địa chỉ: thị trấn N, huyện N, tỉnh T.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức L, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện N: Bà Nguyễn Thị H - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện N.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân thị trấn N; địa chỉ: thị trấn N, huyện N, tỉnh T.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N.
3.2. Ông Vũ Văn N, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1955; địa chỉ: số nhà 690, tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh T.
3.3. Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ: số nhà 692, tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh T.
Tại đơn kháng cáo ngày 12/10/2021, người khởi kiện là bà Lê Thị C, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 57/2021/QĐST-HC ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
XÉT THẤY:
Ngày 13/11/2020, bà Lê Thị C có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh T, đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH088203 ngày 18/01/2012 mang tên ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị N và Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH088250 ngày 18/01/2012 mang tên ông Vũ Văn N, bà Bùi Thị H do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện N, tỉnh T cấp.
Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà Lê Thị C đều xác định: Vào năm 2012, bà đã biết việc gia đình ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị N; ông Vũ Văn N và bà Bùi Thị H đã làm nhà ở và được UBND huyện N, tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; riêng đối với hộ ông N, bà C còn cho rằng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N cấp cho hộ ông N thì có 1/3 đất nhà bà C, 2/3 đất nhà ông N, vì ông N đã gộp vào.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định ngày 13/11/2020, bà Lê Thị C mới có đơn khởi kiện đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH088203 ngày 18/01/2012 mang tên ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị N và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH088250 ngày 18/01/2012 mang tên ông Vũ Văn N, bà Bùi Thị H do (UBND) huyện N, tỉnh T cấp là hết thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (có hiệu lực từ 01/7/2016). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính, đình chỉ việc giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
Tại phiên họp theo thủ tục phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính, bác kháng cáo của bà Lê Thị C, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 57/2021/QĐST-HC ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T.
Từ các phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên họp về việc bác kháng cáo của bà Lê Thị C, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm là có cơ sở.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243; khoản 1 Điều 349 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu hộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 57/2021/QĐST-HC ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T.
2. Về án phí: Bà Lê Thị C, sinh năm 1957, là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (17/9/2022).
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh T; - VKSND tỉnh T; - Cục THADS tỉnh T; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HCTP, HSVA. CÁC THẨM PHÁN Ngô Tự Học Nguyễn Vũ Đông | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Mai Anh Tài THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Mai Anh Tài |