- Tranh chấp gì? "DUA VAO CO SO CAI NGHIEN BAT BUOC"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TĐ TP HCM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 546/QĐ-TA | TP TĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TĐ TP HCM
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lưu Hải Quỳnh Anh.
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân TP TĐ, TP HCM
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân TP TĐ, TP HCM tiến hành phiên
họp để giải quyết hồ sơ thụ lý số 542/XLHC ngày 03/12/2021 về việc xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết
định mở phiên họp số: 510/QĐ-TA ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với:
Ông VQD; Sinh năm: 1991; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn
hóa: 10/12; Nguyên quán: TP HCM; Hộ khẩu thường trú: Số 93/14/1 đường HB, khu
phố 1, phường LTM, TP TĐ, TP HCM; Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; Tiền
án, tiền sự: không có (theo Trích lục tiền án, tiền sự ngày 05/10/2021); Con ông VVH
và bà TTB.
Có Đơn xin vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đoàn Nhị Sơn – Chuyên viên Phòng
Lao động, Thương binh và xã hội TP TĐ, TP HCM.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TĐ, TP HCM: Ông Trần Đức Sơn -
Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 14/9/2021, Công an phường BTĐ, TP TĐ, TP HCM phát hiện ông VQD
có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tại trụ sở Công an phường BTĐ,
ông D thừa nhận có sử dụng ma túy dưới dạng hít. Qua xét nghiệm kết quả nhanh về
ma túy xác định ông D dương tính với chất ma túy. Công an phường BTĐ, TP TĐ đã
tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông D về hành vi “Sử dụng trái
phép chất ma túy”.
Tại phiên họp ngày 13/12/2021, ông Nguyễn Đoàn Nhị Sơn - Đại diện Phòng
Lao động, Thương binh và Xã hội TP TĐ, TP HCM trình bày: Đề nghị Tòa án nhân
dân TP TĐ ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc đối với ông VQD tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức với thời gian
từ 18 tháng đến 24 tháng.
Người bị đề nghị ông VQD có Đơn xin vắng mặt. Tại Đơn, ông D xác định
ngày 15/12/2021, Công an phường Bình Trưng Tây, TP TĐ đưa ông vào Cơ sở xã hội
Thanh thiếu niên 2 để quản lý, cắt cơn giải độc, tư vấn tâm lý; ông D xin vắng mặt tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TĐ, TP HCM về tố tụng: Quá
trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án nhân dân TP TĐ, TP HCM đã chấp hành đúng Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014; ông VQD không nơi cư trú ổn định và còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, văn bản số 1594/LĐTBXH-PCTNXH ngày 01/12/2021 của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội TP TĐ là có căn cứ; vì vậy, Tòa án nhân dân TP TĐ ra Quyết định xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội TP TĐ, TP HCM là phù hợp.
XÉT THẤY:
Tại bản tường trình ngày 14/9/2021, ông VQD xác nhận ông D có sử dụng ma
túy. Căn cứ Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 14/9/2021 tại Công an phường BTĐ, TP TĐ; Kết quả xét nghiệm ngày 14/9/2021 của Bệnh viện Lê Văn Thịnh xác định ông VQD có nghiện ma túy có tên loại ma túy sử dụng là Amphetamin, Methamphetamine, MDMA. Do đó, có cơ sở xác định ông D là người nghiện ma túy.
Căn cứ kết quả trả lời xác minh của Công an phường BTĐ và Công an phường
LTM, Công an phường TTh, TP TĐ, TP HCM có đủ cơ sở kết luận ông D là người không có nơi cư trú ổn định.
Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của ông
D phù hợp với quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại khoản 1 Điều 3, Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Do đó, có đủ cơ sở xác định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D là hợp pháp.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông D là nguy hiểm, là tiền đề làm
phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Tại phiên họp ngày 13/12/2021 ông D có đề nghị vắng mặt, tuy nhiên căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bản thân ông D không có nơi cư trú ổn định nên khả năng tự cai nghiện là không có. Do vậy, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho ông D, để ông D có điều kiện tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội TP TĐ và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TĐ là cần thiết. Tòa án nhân dân TP TĐ, TP HCM căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội TP TĐ, TP HCM.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
Ủy ban nhân dân TP HCM thành lập đối với ông VQD
Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức thuộc Sở Lao động,
Thương binh và Xã hội TP HCM.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể
từ ngày 15/9/2021 (ngày ông D bị đưa vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2).
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc,
cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan biết.
3. Ông VQD có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 (ba) ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội TP TĐ, TP HCM có quyền kiến nghị;
Viện kiểm sát nhân dân TP TĐ, TP HCM có quyền kháng nghị quyết định này trong
thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an TP TĐ, TP HCM; Phòng Lao động,
Thương binh và Xã hội TP TĐ, TP HCM; Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.TĐ; - Công an TP.TĐ; - P.LĐ TBXH TP.TĐ; - Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2; - Cơ sở cai nghiện Phú Đức; - Người bị áp dụng; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN Lưu Hải Quỳnh Anh |