- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Xác định cha mẹ con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình của bà Lê Thị Kim O.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 545/2022/QĐVHNGĐ-ST | Bình Thạnh, ngày 15 tháng 04 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(V/v: Xác định mẹ cho con)
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Sơn Thủy
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Diễm, kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số 0217/2022/TLST-VHNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022, về yêu cầu: “Xác định mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 83/2022/QĐ-MPH ngày 31 tháng 03 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình là bà Lê Thị Kim O; địa chỉ: 162/15/14A đường B,phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với việc xác định bà Trần Thị C là mẹ đẻ của bà Lê Thị Kim O;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Kiêm H
Địa chỉ: 80/3 Khu phố 6A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH:
Bà Lê Thị Kim O trình bày: bà là con của ông Lê Văn T và bà Trần Thị C. Nhưng theo Giấy khai sinh số hiệu 73, trích lục trong sổ khai sinh năm 1952, ngày 16/10/1952 của UBND xã A cấp tên cha là Lê Văn T, tên mẹ là Hoàng Thị Minh Y. Vì bà Hoàng Thị Minh Y là người vợ thứ nhất của cha bà (ông Lê Văn T) nên khi sinh bà cha ruột đã làm giấy khai sinh cho bà với tên người mẹ là bà Hoàng Thị Minh Y.
Cha bà (ông Lê Văn T) đã chết ngày 26/12/1976 theo Giấy chứng tử số 522 đăng ký ngày 27/12/1976, nơi đăng ký: UBND Quận A, TP.HCM.
Mẹ bà (bà Trần Thị C) qua đời ngày 10/7/2021 theo Trích lục khai tử số 96/TLKT ngày 27/10/2021 của UBND Phường A, quận B, TP.HCM. Bà là con một và ngoài ra mẹ bà không có người con nào khác.
Bà thật sự là con của bà Trần Thị C, không phải là con của bà Hoàng Thị Minh Ý. Sự thật này được chứng minh bằng kết quả xét nghiệm gen (ADN) số 49/DVADN ngày 06/9/2012 do Cơ quan giám định Phân Viện khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh với nội dung kết luận như sau:
“Phân tích gen ADN theo hệ Identifiler từ các mẫu tế bào niêm mạc miệng thu của bà Trần Thị C (sinh ngày 19/02/1930) và Lê Thị Kim O (sinh ngày 14/10/1952) cho kết quả như sau:
Bà Trần Thị C và Lê Thị Kim O có cho – nhận alen ở tất cả các locus gen kể trên. Bà Trần Thị C là mẹ đẻ của Lê Thị Kim O.”
Vì vậy, để đảm bảo hộ tịch của bà (Giấy khai sinh) đúng quy định của pháp luật là đúng sự thật với tư cách là con của mẹ bà ( Trần Thị C), bà yêu cầu Tòa án tuyên bố:
Công nhận bà Trần Thị C là mẹ đẻ của bà ( Lê Thị Kim O), sinh ngày: 14/10/1952. Căn cứ vào Quyết định có hiệu lực của Tòa án, bà mới có thể xin điều chỉnh Giấy khai sinh tên người mẹ là bà Trần Thị C. Sự việc bà là con của bà Trần Thị C, em của bà (con của cậu ruột của bà) tên là Trần Kiêm H biết rõ sự thật.
Ông Trần Kiêm H, là em cô cậu ruột, trình bày: Bà Lê Thị Kim O có chồng là ông Võ Văn S. Hiện đang sinh sống tại 162/15/14A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình bà Lê Thị Kim O gồm có các thành viên sau:
1. Ông Lê Văn T (cha đẻ của bà Lê Thị Kim O) đã chết
2. Bà Hoàng Thị Minh Y (vợ đầu của ông Lê Văn T, là mẹ trên giấy tờ pháp lý
của bà Lê Thị Kim O) đã chết
3. Bà Trần Thị C (vợ thứ của ông Lê Văn T, là mẹ đẻ của bà Lê Thị Kim O) đã
chết
Ông Lê Văn T và bà Trần Thị C có với nhau duy nhất một người con là bà Lê Thị Kim O.
Trước đây, ông Lê Văn T và bà Hoàng Thị Minh Y đã làm giấy khai sinh cho bà Lê Thị Kim O là con đẻ của hai người. Nay ông Lê Văn T, bà Hoàng Thị Minh Y và bà Trần Thị C đã chết nên bà Lê Thị Kim O mong muốn làm lại giấy tờ pháp lý theo đúng danh phận của mình, là con đẻ của ông Lê Văn T và bà Trần Thị C vì cũng đã có kết quả xét nghiệm gen ADN giữa bà O và bà C là mẹ con ruột với nhau.
Luật sư Trương Thị H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê
Thị Kim O có đơn xin giải quyết vụ việc theo thủ tục vắng mặt luật sư và gửi bản luận cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị Kim O trong việc xác định mẹ cho con. Theo đó: việc hôn nhân gia đình này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh theo khoản 10 Điều 29 BLTTDS; khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 35 BLTTDS; điểm t khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015. Nội dung việc hôn nhân gia đình và các tình tiết, chứng cứ chứng minh việc bà Lê Thị Kim O thật sự là con của bà Trần Thị C gồm: kết quả xét nghiệm gen (ADN) số 49/DVADN ngày 06/9/2012 của Cơ quan giám định Phân viện Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh thuộc Tổng Cục Cảnh sát PCTP; bản tự khai của ông Trần Kiêm H, bà O và các quy định của pháp luật liên quan. Trên cơ sở quy định của pháp luật, những ý kiến pháp lý và những tình tiết khách quan như nêu trên, kính đề nghị Tòa: Chấp nhận yêu cầu theo đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý ngày 09/02/2022 của bà Lê Thị Kim O là Công nhận bà Trần Thị C là mẹ đẻ của bà Lê Thị Kim O sinh ngày: 14/10/1952 vì yêu cầu của bà Lê Thị Kim O là có thật, có cơ sở pháp lý, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với các tình tiết khách quan của việc hôn nhân gia đình xác định mẹ cho con.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Yêu cầu của bà Lê Thị Kim O là có cơ
sở, nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Lê Thị Kim O, ông Trần Kiêm H và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.
[2] Về quan hệ và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn của bà Lê Thị Kim O yêu cầu Tòa án xác định mẹ cho con. Căn cứ khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ về hôn nhân và gia đình và là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Xét: theo xác nhận tạm trú ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Công an quận Bình Thạnh thể hiện: Bà Lê Thị Kim O sinh năm 1952, có đăng ký tạm trú và thực tế cư trú tại 162/15/14A đường B, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo giấy khai sinh số 73 trích lục trong sổ khai sinh năm 1952 ngày 16/10/1952 của UBND xã A cấp tên cha là Lê Văn T, tên mẹ là Hoàng Thị Minh Y. Vì bà Hoàng Thị Minh Y là vợ thứ nhất của ông Lê Văn T nên khi bà O sinh ra ông T làm giấy khai sinh cho bà O với tên người mẹ là Hoàng Thị Minh Y.
Ông Lê Văn T đã chết ngày 26/12/1976 theo giấy chứng tử số 522 đăng ký ngày 27/12/1976, nơi đăng ký UBND Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trần Thị C qua đời ngày 10/7/2021 theo trích lục khai tử số 96/TLKT ngày 27/10/2021 của UBND Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Và bà C không có người con nào khác.
Theo kết quả xét nghiệm GEN (ADN) số 49/DVADN ngày 06 tháng 9 năm 2012 do Cơ quan giám định phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh với nội dung kết luận như sau “Phân tích gen (ADN) theo hệ Identifiler từ các mẫu tế bào niêm mạc miệng thu của bà Trần Thị C (sinh ngày 19/02/1930) và bà Lê Thị Kim O (sinh ngày 14/10/1952) cho kết quả như sau: Bà Trần Thị C và Lê Thị Kim O có cho – nhận alen ở tất cả các locus gen kể trên. Bà Trần Thị Cháu là mẹ đẻ của bà Lê Thị Kim Oanh”
Đối chiếu với tất cả chứng cứ nêu trên, xét thấy bà O có đơn yêu cầu Tòa án xác định bà Trần Thị C là mẹ đẻ của mình là có cơ sở và hợp pháp nên chấp nhận.
[4] Về lệ phí: Bà Lê Thị Kim O được miễn nộp lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 10 Điều 29, Điều 361, Điều 366, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình của bà Lê Thị Kim O.
Tuyên bố bà Trần Thị C là mẹ đẻ của bà Lê Thị Kim O.
Bà Lê Thị Kim O được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thay đổi các thông tin về hộ tịch có liên quan theo giấy khai sinh số 73 trích lục trong sổ khai sinh năm 1952 ngày 16/10/1952 của UBND xã A cấp theo quy định của pháp luật.
2. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim O sinh năm 1952 có đơn xin miễn nộp tạm ứng lệ phí và lệ phí tòa án. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bà Oanh được miễn nộp lệ phí Tòa án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Bình Thạnh; - UBND Phường Đệ Nhất; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Sơn Thủy |