- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Nguyên đơn: Ông Y T Ke Ăn, bà H L Niê. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 297/QĐKN-VKS-DS ngày 10/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk và chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Y T Ke Ăn.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 54/2023/QĐ-PT | Đắk Lắk, ngày 22 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Văn Toàn và ông Nguyễn Tấn Đức
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Kim Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023, Toà án nhân dân huyện Krông Búk đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Y T Ke Ăn, bà H L Niê.
Địa chỉ: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, địa chỉ: B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ngày 10/7/2023, ông Y T Ke Ăn kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk.
Ngày 10/7/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk ban hành Quyết định kháng nghị số 297/QĐKN-VKS-DS đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nêu trên và chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án do người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ, nơi cư trú cụ thể của người bị kiện theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự là không đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Y T Ke Ăn, hủy quyết định đình chỉ số 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk.
XÉT THẤY:
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Y T Ke Ăn, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, thì thấy:
Tại Quyết định đình chỉ số 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, với lý do đình chỉ giải quyết vụ án là do chưa đủ điều kiện khởi kiện, không xác định được nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ tại đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ bổ sung của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, lý do đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng quy đinh của pháp luật, bởi lẽ: Tại hợp đồng đặt cọc ngày 10/02/2022, giữa ông Y T, bà H L với bà L thể hiện bà L có hộ khẩu thường trú tại B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và tại biên bản xác minh ngày 20/02/2023 của Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ thì bà Nguyễn Thị Mỹ L sinh năm 1987 cũng có hộ khẩu thường trú tại B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đúng như địa chỉ trong hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án. Hiện nay, bà L đã chuyển hộ khẩu và đăng ký thường trú tại tổ dân phố 6A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nhưng qua kết quả xác minh tại tổ dân phố 6A, phường T, thành phố B thì không có ai tên Nguyễn Thị Mỹ L sinh năm 1987 cư trú tại đây.
Theo quy định tại đoạn 2 của điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
“Điều 6. Xử lý việc ghi địa chỉ của người bị kiện (bị đơn), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:
a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Trong vụ án này, nguyên đơn đã ghi đầy đủ đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo hợp đồng đặt cọc ngày 10/02/2022. Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, bà L thay đổi địa chỉ nơi cư trú và không thông báo cho ông Y T Ke Ăn, bà H L Niê là cố tình che giấu địa chỉ thuộc trường hợp Tòa án phải tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án, vì lý do không tống đạt được cho bị đơn.
Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng phúc thẩm xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đúng và chưa phù hợp. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk và kháng cáo của ông Y T Ke Ăn, hủy Quyết định đình chỉ số 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Krông Búk để giải quyết theo thẩm quyền.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn ông Y T Ke Ăn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 297/QĐKN-VKS-DS ngày 10/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk và chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Y T Ke Ăn.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 32/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Krông Búk để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Về án phí:
- Số tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết ở cấp sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho ông Y T Ke Ăn 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000453 ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND CC tại Đà Nẵng - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND H. Krông Búk; - VKSND H. Krông Búk; - THADS H. K; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Y Phi Kbuôr |