vanban.org

Quyết định 54/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 138/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2021, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, giữa:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1992. Địa chỉ: phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 138/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2021, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 54/2021/QĐST-HNGĐTam Nông, ngày 15 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Khi khởi kiện, người khởi kiện chị Nguyễn Thị L đã ghi đầy đủ địa chỉ của người bị kiện anh Bùi Văn T tại ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không thể tống đạt được văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện và địa chỉ công an xã An Hòa xác nhận “ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp”, khi tiến hành thu thập, xác minh địa chỉ thì Công an xã A có xác nhận ngày 12/05/2021 như sau: “Đương sự Bùi Văn T sinh năm 1986, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay anh T không có mặt tại địa phương. Vắng mặt từ thời gian nào không rõ và hiện nay không biết sinh sống làm ăn ở đâu”. Qua buổi làm việc tại Tòa án ngày 06/05/2021 chị L trình bày “anh T không thường xuyên về xã A. Tôi được biết anh T làm theo công trình, tôi không rõ địa chỉ nơi làm việc của anh T; chị L không biết địa chỉ cư trú của anh T hiện nay ở đâu”. Tòa án có văn bản yêu cầu chị L cung cấp địa chỉ mới của bị đơn đang sinh sống (Thông báo số 40/TB-TA ngày 19/05/2021) đến nay nguyên đơn không cung cấp được. Do đó, Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn nên đình chỉ giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 138/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2021, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, giữa:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: anh Bùi Văn T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án dân sự nêu trên theo quy định pháp luật.

- Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự (nếu có yêu cầu).

- Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002334, quyển số 00472, ngày 06/05/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

3. Đương sự, chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ