vanban.org

Quyết định 538/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc P.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1979 và trẻ Ngô Nguyễn Thùy T, giới tính: Nữ, sinh ngày 15/12/2005 theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi của Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị Ngọc P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc P.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Điều 27 Luật Nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 538/2019/QĐST-HNGĐQuận 9, ngày 22 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thúy Quỳnh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thành Quang là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 523/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2019 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Quyết định mở phiên họp số: 115/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị Ngọc P; Địa chỉ: phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc C

2/ Ông Ngô Trung H

Cùng địa chỉ: đường T, phường P, Quận A, Thành phố H

(Các đương sự vắng mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC:

Theo đơn yêu cầu nộp ngày 15/01/2019 và bản tự khai, người yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc P trình bày: Năm 2013 bà có nhận trẻ Ngô Nguyễn Thùy T, giới tính: Nữ, sinh ngày 15/12/2005 làm con nuôi từ cha mẹ ruột là ông Ngô Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc C. Việc nhận con nuôi được Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận

Trong thời gian nuôi dưỡng trẻ Thùy T, bà đã có những hành vi đối xử không tốt với trẻ và bị Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính. Nay trẻ Thùy T mong muốn được về ở với cha mẹ ruột và ông H bà C cũng muốn nhận lại con mình. Do đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà và trẻ Thùy T, giao trẻ cho bố mẹ ruột nuôi dưỡng. Tại bản tự khai, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc C trình bày: ông bà là bố mẹ ruột của trẻ Ngô Nguyễn Thùy T, giới tính: Nữ, sinh ngày 15/12/2005. Năm 2013, ông bà đồng ý để trẻ làm con nuôi của bà Nguyễn Thị Ngọc P do bà P không có chồng con và có nhu cầu nhận trẻ làm con nuôi. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng trẻ, ông bà phát hiện bà P đã đối xử không tốt với trẻ và đã bị chính quyền địa phương xử phạt vi phạm hành chính. Nay ông bà mong muốn nhận lại trẻ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tốt hơn. Đề nghị tòa án chấp nhận yêu cầu của bà P. Tại phiên họp: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà P. Bà P phải chịu lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: * Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà P yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với trẻ Thùy T, đồng thời bà P và trẻ Thùy T cư trú tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là việc hôn nhân gia đình về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. * Về thủ tục tố tụng: bà Nguyễn Thị Ngọc P, ông Ngô Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc C có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt đối với các đương sự trên. * Về nội dung việc dân sự: [1] Xét yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà P, Tòa án nhận thấy: Căn cứ Giấy chứng nhận nuôi con nuôi do Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà P thì quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi giữa bà P và trẻ Thùy T là hợp pháp. Căn cứ Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh; đơn yêu cầu và lời trình bày của các đương sự thì có cơ sở xác định: trẻ Thùy T là con ruột của ông Ngô Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc C. Năm 2013, thì trẻ Thùy T được bà P nhận làm con nuôi. Trong quá trình nuôi dưỡng thì bà P đối xử tệ với trẻ Thùy T như bắt trẻ nhịn ăn, nhịn uống…

Nay bà P yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với trẻ Thùy T, cha mẹ ruột của trẻ đồng ý nhận lại con để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, trẻ Thùy T cũng có nguyện vọng được về ở với cha mẹ ruột. Căn cứ Điều 25 và Điều 27 Luật Nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà P.

Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà P phải chịu lệ phí sơ thẩm là: 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các điều 149, 361, 367, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 25 và Điều 27 Luật nuôi con nuôi;

Căn cứ vào Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc P.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1979 và trẻ Ngô Nguyễn Thùy T, giới tính: Nữ, sinh ngày 15/12/2005 theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi của Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật

2. Giao trẻ Ngô Nguyễn Thùy T cho cha mẹ ruột là ông Ngô Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc P chịu, nhưng được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Ngọc P đã nộp đủ lệ phí. 4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ