vanban.org

Quyết định 533/2023/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 07/11/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị Đ không phải nộp tiền án phí phúc thẩm. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 533/2023/QĐ-PT

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phí Thành Chung

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Nam

Ông Chu Tuấn Anh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn – Thẩm tra viên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thu Dung - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã căn cứ vào Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị U, sinh năm 1977. Trú tại: Đ, thôn V, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế T - Luật sư thuộc Công ty L, địa chỉ: tầng E, lô A BT4-3, dự án Khu nhà ở T, phường T, quận N, Hà Nội.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1956.

2.2. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1971.

Cùng trú tại: Số C ngách D phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958. Trú tại: Số C ngách D phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Tại Đơn kháng cáo và văn bản nêu ý kiến tại cấp phúc thẩm của bà Nguyễn Thị Đ (người kháng cáo) có nội dung: Tại cấp sơ thẩm, bà Đ đã có yêu cầu độc lập, bị đơn không có yêu cầu phản tố nên trong trường hợp nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện thì căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217, Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn đồng thời thay đổi địa vị tố tụng, xác định bà Đ là nguyên đơn, ông Đỗ Văn T1, bà Trần Thị Thu H là bị đơn, bà Trần Thị U là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy và yêu cầu Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý yêu cầu độc lập của bà Đ theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bà Trần Thị U có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện, việc rút đơn của bà U là hoàn toàn tự nguyện. Ông T1, bà H là bị đơn trong vụ án không có yêu cầu phản tố và đồng ý với việc rút đơn của bà U, bà Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa được thụ lý yêu cầu độc lập. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Do hậu quả của việc đình chỉ vụ án theo Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn là bà U có quyền khởi kiện lại, bà Đ có quyền nộp lại yêu cầu độc lập hoặc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình bằng vụ án khác nên quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vẫn được bảo đảm.

Từ những phân tích trên nhận thấy: kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ không có căn cứ để chấp nhận. Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ số 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng phúc thẩm xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ, như sau:

Ngày 03/01/2023, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã thụ lý vụ án sơ thẩm dân sự số 01/2023/DSST về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị U, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Đỗ Văn T1, bà Trần Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Đ bàn giao đủ diện tích đất cho bà U theo Giấy chứng nhận số 10113090638 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 21/8/2001, đính chính sang tên cho ông T1, bà H ngày 25/5/2015; Buộc ông Đỗ Văn T1, bà Trần Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Đ rút đơn ngăn chặn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập đề ngày 25/4/2023, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho một phần thửa đất số 71 tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ tổ D, phường D, quận C, Hà Nội, giữa ông Đỗ Văn P, bà Lê Thị H1 với ông Đỗ Văn T1, bà Trần Thị Thu H; hủy Giấy chứng nhận số 10113090638 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 21/8/2001, đính chính sang tên cho ông T1, bà H ngày 25/5/2015. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà H với bà Trần Thị U.

Ngày 30/6/2023, bà Trần Thị U là nguyên đơn có Đơn xin rút đơn khởi kiện. Việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không bị ép buộc. Bị đơn là ông T1, bà H không có yêu cầu phản tố và nhất trí với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục xem xét thụ lý yêu cầu độc lập.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự thì bà Nguyễn Thị Đ có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định nên vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Do đó, Hội đồng phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên họp là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự.

Căn cứ:

- Điều 48; điểm c Khoản 1 Điều 217; khoản 3 Điều 218; Điều 273; điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/QĐST-DS ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

2. Bà Nguyễn Thị Đ không phải nộp tiền án phí phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ