- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn C kiện UBND TP T"
- Tòa quyết gì? I/ Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 880/2024/TLPT-HC ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất và quyết định hành chính giải quyết khiếu nại, giữa các đ…
- Căn cứ chính? Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 225 Luật tố tụng hành chính; Điều 229 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 531/2025/QĐ-PT | Tp.Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa;
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ;
Bà Nguyễn Thị Cúc.
Sau khi xét xử, Bản án hành chính sơ thẩm số 1750/2022/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị kháng cáo như sau:
- Ngày 27/10/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn kháng cáo của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị N (đơn không ghi ngày, chỉ ghi tháng 10 năm 2022), nội dung đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C. Tuy nhiên, qua xem xét hồ sơ vụ án, ông Trần Văn C là người kháng cáo quá hạn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét không chấp nhận kháng cáo quá hạn của ông Trần Văn C theo Quyết định số 19A/2023/QĐ-PT ngày 25/5/2023. Vì vậy, trong vụ án này Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị N. Ngoài kháng cáo nêu trên, không còn kháng nghị, kháng cáo nào khác.
XÉT THẤY:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã 04 (bốn) lần mở phiên tòa để xét xử vụ án; cụ thể như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ nhất mở vào ngày 14/01/2025:
- Người khởi kiện ông Trần Văn C vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Lê Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt toàn bộ quá trình xét xử (đơn ghi ngày 02/01/2025);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N vắng mặt;
- Người bị kiện vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện gồm: ông Hoàng Văn H, ông Trương Văn T1 và ông Phạm Đình P có mặt;
Tòa án cấp phúc thẩm đã hoãn phiên tòa ngày 14/01/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai mở vào ngày 14/02/2025:
- Người khởi kiện ông Trần Văn C vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N vắng mặt;
- Người bị kiện vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Trương Văn T1 có mặt;
Do chưa kiểm tra được kết quả tống đạt cho đương sự nên Tòa án cấp phúc thẩm đã hoãn phiên tòa ngày 14/02/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ ba mở vào ngày 25/3/2025:
- Người khởi kiện ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên tòa;
- Người bị kiện vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện gồm: ông Trương Văn T1 và ông Phạm Đình P có mặt;
Tòa án cấp phúc thẩm đã hoãn phiên tòa ngày 25/3/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ tư mở vào ngày 05/5/2025:
- Người khởi kiện ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N vắng mặt;
- Người bị kiện vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện gồm: ông Trương Văn T1 và ông Phạm Đình P có mặt;
- Việc tống đạt cho ông Trần Văn C được thực hiện như sau: Ngày 25/4/2025 Bưu Cục phát L đã phát thành công bưu gửi số hiệu EK728998767VN cho người nhận là ông Trần Văn C (địa chỉ: Số G đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng thời, ngày 24/4/2025 Bưu Cục phát T đã phát thành công bưu gửi số hiệu EK728998753VN cho người nhận là ông Lê Văn T là đại diện theo ủy quyền của ông C (địa chỉ: Số C Đường A, KP3, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Việc tống đạt cho người kháng cáo là bà Nguyễn Thị N được thực hiện như sau: Ngày 25/4/2025 Bưu Cục phát L đã phát thành công bưu gửi số hiệu EK728998705VN cho người nhận là bà Nguyễn Thị N (địa chỉ: Số G đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tại điểm a khoản 2 Điều 225 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về sự có mặt của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người giám định, người phiên dịch và người làm chứng, như sau:
“2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Đối với người kháng cáo mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt;”
Tại khoản 13, khoản 14 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 giải thích về khái niệm pháp lý “Trở ngại khách quan” và “Sự kiện bất khả kháng” như sau:
“13. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ của mình.
14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”
Người kháng cáo bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chiếu theo các điều luật đã viện dẫn nêu trên, Tòa án có căn cứ kết luận rằng việc bà Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai vào ngày 05/5/2025 không thuộc vào trường hợp bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Vì vậy, bà Nguyễn Thị N bị coi là từ bỏ việc kháng cáo, do đó Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do người kháng cáo bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên số tiền tạm ứng án phí đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
Căn cứ Điều 225; Điều 229; khoản 5 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
I/ Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 880/2024/TLPT-HC ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất và quyết định hành chính giải quyết khiếu nại, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Trần Văn C1, sinh năm 1960địa chỉ: Số B, Tổ A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện cư trú: Số G đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Văn T, sinh năm 1966, địa chỉ: Số C Đường A, KP3, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/10/2019).
2. Người bị kiện:
2.1. U (nay là UBND thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Chủ tịch U (nay là Chủ tịch UBND thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Chủ tịch UBND Thành phố H.
Địa chỉ: Số H đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T:
1. Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1973;
2. Ông Trương Văn T1, sinh năm 1977;
3. Ông Phạm Đình P;
Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là Chủ tịch UBND Thành phố H:
1. Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1973;
2. Ông Trương Văn T1, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962, địa chỉ: Số B, Tổ A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí MinhHiện cư trú: Số G đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
II/ Bản án hành chính sơ thẩm số 1750/2022/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.
III/ Về án phí phúc thẩm: Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm của bà Nguyễn Thị N (được ông Lê Văn T nộp thay) theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0003459 ngày 14/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
IV/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tối cao; -VKSNDCC tại TP.HCM; -TAND TP.HCM; -Cục THADS TP.HCM; -Các đương sự; -Lưu VP, HS (TVN). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hòa |