- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Bộ C1 thành lập đối với ông Nguyễn Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06 tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 53/2025/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lương Duy Minh C.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 1) tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 43/QĐ-TA ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Tấn T; Giới tính: Nam;
Sinh năm: 1991; Dân tộc: Kinh;
Số định danh cá nhân/CMND: 079091014641;
Hộ khẩu thường trú: 20/17/1 Nguyễn Nhược Thị, phường Phú Định, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở: 20/17/1 Nguyễn Nhược Thị, phường Phú Định, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nghề nghiệp: Xe ôm công nghệ;
Tiền án: Không; Tiền sự: Có;
Nhân thân: 01 lần cai nghiện bắt buộc (2003-2004, Công an xã A, huyện B cũ đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại CSCNMT P).
Con ông Nguyễn Tấn T1 và bà Lâm Kim N;
Ông Nguyễn Tấn T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Tấn S – Cán bộ Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Hoàng Nam - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Biên bản vi phạm hành chính, Bản tường trình, Biên bản xác minh và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ việc, có căn cứ xác định:
Vào ngày 01/08/2025, T bị tổ tuần tra Công an phường B bàn giao về trụ sở Công an phường P làm việc do nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đương sự T cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy), Công an phường P lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T ngày 04/08/2025. Tại Bản tường trình và Biên bản làm việc cùng ngày 04/08/2025, ông T khai nhận có sử dụng ma túy (ma túy đá), hình thức sử dụng hút vào cơ thể. Tần suất sử dụng ma túy là không xác định, lần sử dụng gần nhất trước khi bị phát hiện lập biên bản vào ngày 24/7/2025.
Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01/08/2025 của Cơ sở Trung tâm y tế Q cũ thể hiện ông Nguyễn Tấn T nghiện ma túy loại Methamphetamine (MET), Ủy ban nhân dân phường P lập Biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và Biên bản làm việc cùng ngày 04/8/2025 xác định ông T nghiện ma túy đã từng đi cai nghiện bắt buộc, thuộc diện đối tượng đưa vào cai nghiện bắt buộc, ông T chấp nhận cai nghiện bắt buộc theo quy định. Do đó, Công an phường P ban hành Thông báo số 12/TB-CAP ngày 02/10/2025 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T và đã giao Thông báo trên cho ông T.
Do bà Lâm Kim N là mẹ ruột đối tượng Thanh từ chối quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 04/8/2025, Công an phường P ban hành Quyết định số 24/QĐ-CAP(QLNN) giao Cơ sở cai nghiện ma túy số 3, Tp . quản lý.
Ngày 10/10/2025, Công an phường P đã gửi Văn bản số 07/ĐNCNBB-CAPPĐ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T.
Tại phiên họp:
Đại diện Công an phường P giữ nguyên đề nghị tại Văn bản số 07/ĐNCNBB-CAPPĐ ngày 10/10/2025, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06 tỉnh Đồng Nai với thời gian từ 12 tháng đến 24 tháng.
Ông Nguyễn Tấn T thừa nhận bản thân có sử dụng và nghiện chất ma túy. Ông T thể hiện ý kiến chấp hành cai nghiện bắt buộc theo quy định, không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đúng, đủ các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên họp. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận đề nghị của Công an phường P đưa ông Nguyễn Tấn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 đến 22 tháng.
XÉT THẤY:
. Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn T: Công an phường P là cơ quan đề nghị nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Quốc hội.
. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường P đối với ông Nguyễn Tấn T được lập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định tại Điều 103; Khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
. Về thời hiệu: Ngày 04/08/2025, Nguyễn Tấn T bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy lập biên bản vi phạm hành chính đến nay là còn thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
. Về điều kiện áp dụng: Nguyễn Tấn T đã trên 18 tuổi, tuy có nơi cư trú ổn định nhưng bản thân ông T là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú nhưng vẫn tiếp tục sử dụng và nghiện ma túy. Do vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm a Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện và vi phạm Khoản 1, Khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nguyễn Tấn T đã tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ việc thể hiện ông T đã từng được đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện tuy chưa đủ điều kiện để xác định là người có tiền sự nhưng cũng cần cân nhắc khi xem xét thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với ông T.
Từ các phân tích trên, theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 95, Khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cho thấy đề nghị của Công an phường P về việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy đối với ông Nguyễn Tấn T nhằm tạo điều kiện cho ông T sớm tái hòa nhập cộng đồng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06 tỉnh Đồng Nai cơ sở tiếp nhận ban đầu Cơ sở cai nghiện ma túy Số C, Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết, có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 2; Khoản 1 Điều 3; Khoản 1 Điều 21; Điều 23, Điều 24, Điều 25; Khoản 1 Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Khoản 2 Điều 5; Khoản 2 Điều 6; Điều 95, Điều 96; khoản 2 Điều 105; các Điều 106, 107; Khoản 2, 3 Điều 108; điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
Áp dụng Điều 32 Luật Phòng, Chống Ma tuý số 73/2021/QH14; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Bộ C1 thành lập đối với ông Nguyễn Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06 tỉnh Đồng Nai. Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị Công an phường P giao Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 Thành phố Hồ Chí Minh quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: 04/08/2025.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Ông Nguyễn Tấn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Công an phường P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ quan đề nghị đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - VKSND khu vực 10 – Tp. Hồ Chí Minh; - Công an phường Phú Định; - UBND phường Phú Định; - Cơ sở cai nghiện ma túy Số 06 tỉnh Đồng Nai; - Cơ sở cai nghiện ma túy Số 3 Tp. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Lương Duy Minh Chính |