vanban.org

Quyết định 53/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về hôn nhân: Ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H tự nguyện thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN TRỤ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 53/2022/QĐST-HNGĐTân Trụ, ngày 05 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 64/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1985.

Địa chỉ cư trú: Số X, đường THĐ, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng H, sinh năm 1984.

Địa chỉ cư trú: Số Y, ấp BĐ, xã BT, huyện T, tỉnh Long An.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 26 tháng 4 năm 2022,

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự đã được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 26 tháng 4 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H tự nguyện thuận tình ly hôn.

Về nuôi con chung: Ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H xác định có 02 con chung tên Lê Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2011 và Lê Nguyễn LĐ, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2015. Ông N và bà H thống nhất giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản: Ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H xác định không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ trả nợ: Ông Lê Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Thị Hoàng H xác định không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê Nguyễn Hoàng N tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007294 ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, hoàn trả cho ông Lê Nguyễn Hoàng N số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ