vanban.org

Quyết định 53/2022/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/10/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày Ngô Lê P bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Xã Tân T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "xử lý vi phạm hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 53/2022/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 12 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Lê Đình Thanh

- Thư ký phiên họp: Ông Bùi Văn Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Ngày 12 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 46/2022/QĐ-TA ngày 05 tháng 10 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Ngô Lê P, sinh năm 1985; (Tên gọi khác: B).

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12;

Nguyên quán: Huyện Hoài N - tỉnh Bình Định;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà 111 P, tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nhân thân: Tiền án: 02; tiền sự: Không.

Con ông: Ngô V và con bà Lê Thị N;

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B.

Người đại diện: Ông Nguyễn Văn D - Chức vụ: Trưởng Phòng lao động Thương binh và Xã hội thành phố B.

Đại diện ủy quyền tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị N – Chuyên viên phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B, có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngô Lê P là đối tượng sử dụng ma túy, ngày 14/9/2022 Công an phường T, TP. B phát hiện Ngô Lê P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Ngô Lê P đến Bệnh viện đa khoa TP. B để xét nghiệm, xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MOP (Morphin/Heroin). Quá trình làm việc Ngô Lê P khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2008, bằng hình thức đốt lên rồi hít vào cơ thể.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đăk Lăk – Bà Vũ Thị N trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thể hiện Ngô Lê P là người nghiện ma túy từ năm 2008 cho đến nay, Ngô Lê P không tự cai nghiện được, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P với thời hạn từ 16 đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến: Về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và xã hội thành phố B.

Tại biên bản ghi lời khai, bản tường trình, người bị đề nghị Ngô Lê P trình bày ý kiến: Ngô Lê P là người nghiện ma túy từ năm 2008. Ngày 14/9/2022 Công an phường T, TP. B phát hiện Ngô Lê P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Ngô Lê P đến Bệnh viện đa khoa TP. B để xét nghiệm, xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MOP (Morphin/Heroin). Ngô Lê P không có ý kiến gì về việc bị lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào các ý kiến trình bày tại phiên họp, xét thấy:

Ngô Lê P là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, buộc phải biết chất ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm sử dụng, gây nhiều nguy hại cho nòi giống con người và xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, đồng thời còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh thế kỷ lây nhiễm HIV/AIDS và dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Ngô Lê P bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2008 cho đến nay. Ngày 14/9/2022 Công an phường T, TP. B phát hiện Ngô Lê P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Ngô Lê P đến Bệnh viện đa khoa TP. B để xét nghiệm, xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MOP (Morphin/Heroin). Do đó các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Ngô Lê P. Việc lập hồ sơ của các cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021.

Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, nhân thân, mức độ nhận thức về pháp luật của người bị đề nghị và ý kiến của những người tham gia phiên họp, xét thấy mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng ông Ngô Lê P vẫn cố ý sử dụng. Xét hành vi của ông Ngô Lê P có tính liên tục, kéo dài, vậy để tạo điều kiện cho Ngô Lê P chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội TP. B, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Các Điều 19, Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Lê P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày Ngô Lê P bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Xã Tân T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B phối hợp với Công an thành phố B đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ