- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Quyết định giám đốc thẩm Số: 53/2020/DS - GĐT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 04/9/2020 Về “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm
Các Thẩm phán: Ông Lê Tự và ông Phạm Việt Cường
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1947; cư trú: Xóm X, thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1961; cư trú: Xóm X, thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1953; cư trú: Xóm X, thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1949; cư trú: Xóm X, thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 05/12/2016 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Võ Văn H trình bày: Diện tích đất ở và đất vườn hiện nay nhà Ông đang sử dụng là của cha mẹ Ông. Sau khi qua đời, cha mẹ Ông đã để lại cho Ông ở cho đến nay; bao quanh đất là hàng rào cây duối. Trong đó, đất vườn nhà Ông giáp với đất vườn vợ chồng bà Trần Thị N, ông Nguyễn Văn Tr, hàng rào cây duối là ranh giới giữa hai nhà có từ đời ông bà, cha mẹ để lại, có chiều dài 20,5m và chiều rộng là 20cm. Vào các ngày 13/9/2016, ngày 16/9/2016, bà N đã tự ý chặt phá 13 cây duối trên hàng rào nhà Ông. Do đó, Ông khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng ông Tr, bà N phải khắc phục lại hàng rào cây duối, bằng cách trồng lại hàng rào cây duối như ban đầu chưa bị bà N chặt hoặc phải xây lại bằng hàng rào bê tông kéo lưới B40 bền vững cho gia đình Ông.
- Bị đơn là bà Trần Thị N trình bày: Giữa Bà với bà Nguyễn Thị X (vợ ông H) có xảy ra mâu thuẫn liên quan đến hàng rào cây duối giữa hai nhà từ mấy năm nay. Thời gian gần đây, khoảng tháng 09/2016, bà X ra vườn nhổ cỏ và dậm hàng rào cây duối giữa hai nhà ngã xuống, Bà thấy vậy nói với bà X “vợ chồng bà chặt hàng rào mỏng hết mà nay còn dậm xuống nữa” thì bà X chửi Bà liên tiếp; sau đó, đến ông H (chồng bà X) ra nói “hàng rào phía tao tao chặt, phía mày mày chặt chuyện gì mày phải nói”. Sau khi Bà bị bà X chửi và nghe ông H nói vậy nên Bà đã lấy rựa chặt hết 13 cây duối hàng rào ranh giới giữa hai nhà. Nay vợ chồng ông H, bà X buộc bà phải khắc phục lại hàng rào cây duối như ban đầu hoặc khôi phục lại bằng hàng rào bê tông kéo lưới B40 bền vững cho gia đình ông H, Bà không đồng ý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày trên của ông H và không có ý kiến bổ sung gì thêm.
+ Ông Nguyễn Văn Tr trình bày: Ông thống nhất như lời trình bày trên của bà N và không có ý kiến bổ sung gì thêm.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 29/5/2017, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định quyết định:
Buộc bà Trần Thị N, sinh năm 1961, trú tại: Xóm X, thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định phải bồi thường cho ông Võ Văn H giá trị hàng rào cây duối có chiều dài 20,5m, chiều rộng 20cm với số tiền Hội đồng định giá đã định là 276.750 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 06/6/2017, ông Võ Văn H có đơn kháng cáo không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm.
- Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:
Chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn H. Sửa bản án sơ thẩm.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tr và bà Trần Thị N phải bồi thường cho ông Võ Văn H giá trị hàng rào có chiều dài 20,5m, chiều rộng 20cm được rào bằng trụ bê tông cốt thép, lưới B40 với số tiền 10.250.000đ.
Tòa cấp phúc thẩm còn quyết định về chi phí định giá, án phí và nghĩa vụ thi hành án.
- Ngày 14/11/2018, Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự huyện V có văn bản số 01/KN-BCĐ.THADS kiến nghị xem xét lại Bản án dân sự phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.
- Ngày 20/6/2019, bà Trần Thị N có Đơn đề nghị chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho cấp có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm trên.
- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 15/2020/KN-DS ngày 27/5/2020, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm theo đúng quy định pháp luật
- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận một phần kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bình Định.
Hội đồng xét xử nhận thấy, phía bị đơn đã làm hàng rào xong nhưng phải thi hành bản án sơ thẩm bồi thường tiếp cho phía nguyên đơn là không phù hợp nên quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
(1) Nguồn gốc hàng rào cây duối ranh giới giữa nhà ông H, bà X với nhà bà N, ông Tr hình thành từ thời ông bà nội của ông H để lại cho ông H. Ngày 13/9/2016 và ngày 16/9/2016, bà N chặt phá hàng rào ranh giới cây duối (13 cây) không được sự đồng ý của hộ ông H là không hợp pháp nên bà N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
(2) Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông H là có căn cứ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã tính giá hàng rào cây duối có gốc cây duối (02 bị chết tự nhiên, còn lại 13 gốc cây bị chặt) và một số bụi xen kẽ cũng bị chặt, không thuộc loại cây trồng cảnh quan, cho nên định giá áp theo đơn giá 13.500đ/m x 20,5m = 276.750 đ là không phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại buộc bà N, ông Tr phải bồi thường theo trị giá hàng rào bê tông 10.250.000 đồng là không đúng. Vì, bồi thường là theo thiệt hại thực tế xảy ra không thể áp dụng trị giá thiệt hại đối với hàng rào bê tông thay cho hàng rào cây duối được mà cần phải xác minh, thu thập chứng cứ để xác định trị giá thiệt hại trên thực tế đối với hàng rào cây duối cho phù hợp.
(3) Mặt khác, hồ sơ vụ án thể hiện chỉ một mình bà N là người trực tiếp chặt hàng rào cây duối, đã được ông H thừa nhận, Tòa án cấp sơ thẩm buộc một mình bà N bồi thường là đúng, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm buộc cả ông Tr, bà N phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của ông Tr.
(4) Hiện nay vợ chồng bà N đã làm hàng rào trụ bê tông kéo lưới B40 theo hàng rào cây duối, cách hàng rào cũ của ông H khoảng 30cm về phần đất của ông Tr, bà N nên khi Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án cần hòa giải và xem xét giải quyết cho phù hợp.
(5) Ngoài ra, khi thụ lý, giải quyết lại vụ án, Tòa án cần phải xác định quan hệ tranh chấp cho chính xác, bởi vì theo các bản án thể hiện Tòa án hai cấp đều xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” nhưng khi quyết định thì chỉ tuyên việc bồi thường thiệt hại về tài sản mà không có nội dung nào là giải quyết tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề; còn nếu xác định các đương sự chỉ tranh chấp việc bồi thường thiệt hại về tài sản thì cần phải xác định lại quan hệ tranh chấp cho phù hợp.
(6) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng phía bị đơn đã làm hàng rào bằng trụ bê tông kéo lưới B40 tại ranh giới phần đất của hai hộ gia đình đang tranh chấp xong nên đề nghị hủy Bản án dân sự phúc thẩm, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy, phía bị đơn đã làm hàng rào xong nhưng phải thi hành bản án sơ thẩm bồi thường cho phía nguyên đơn là không phù hợp nên quan điểm của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử không chấp nhận.
(7) Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 15/2020/KN-DS ngày 27/5/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm theo đúng theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337; khoản 3 Điều 343, Điều 345, Điều 349 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2017/DS-PT ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm theo đúng quy định pháp luật.
3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
| Nơi nhận: - Viện trưởng VKSNDCC tại Đà Nẵng (để biết); - TAND tỉnh Bình Định (02 bản kèm hồ sơ để giải quyết phúc thẩm lại); - Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bình Định (để thi hành); - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: Phòng lưu trữ (VP); Phòng Giám đốc kiểm tra về DS-KDTM-LĐ và hồ sơ vụ án. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Liêm |