- Tranh chấp gì? "Trương văn K - UBND huyện X"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn K đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 54/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh B.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng Hành chính
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 529/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 8 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Công
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Thành
Ông Đỗ Đình Thanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 54/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018;
Tòa án nhân dân tỉnh B đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khởi kiện đối với hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện X về việc thu hồi 50.000 m2 đất tại ấp Phú Quý, xã Hòa Hiệp, huyện X, tỉnh B nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất; không đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cho giá đình ông K là trái pháp luật” giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trương Văn K, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn Gia Lâm, xã Ia Krel, huyện Đ, tỉnh G.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh B; Địa chỉ: Số 151, Quốc lộ 55, thị trấn Phước Bửu, huyện X, tỉnh B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân tỉnh B; Địa chỉ: Số 01 Phạm Văn Đồng, phường Phước Trung, thành phố B, tỉnh B.
+ Công ty Cổ phần Cao su T; Địa chỉ: Số 256 đường 27/4, phường Phước Trung, thành phố B, tỉnh B.
+ Công ty Cổ phần Nông nghiệp H; Địa chỉ: Số 60B Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố H.
Tại đơn kháng cáo ngày 13/11/2018, người khởi kiện ông Trương Văn K kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hạn, thời hiệu không đúng theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
XÉT THẤY:
Ngày 03/5/1994, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 777/QĐ-UBT thu hồi 500 héc ta đất tại xã Hòa Hiệp, Bàu Lâm, huyện X trước kia giao cho Nông trường cao su H II để giao cho Công ty Cao su T trồng mới cây cao su.
Cho rằng Công ty Cao su T thu hồi 103 héc ta đất trong đó có đất của các hộ dân nằm ngoài diện tích 500 héc ta theo Quyết định số 777/QĐ-UBT nêu trên nên 85 hộ dân trong đó có hộ ông Trương Văn K khiếu nại yêu cầu trả lại phần đất thu hồi vượt, bồi thường thỏa đáng thiệt hại đất và hoa màu, tài sản trên đất. Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 460/QĐ.UBT ngày 23/5/1995 không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân và Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 504/QĐ-UBT ngày 01/6/1995 cưỡng chế thu hồi đất.
Ông Trương Văn K và các hộ dân tiếp tục khiếu nại, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 6520/QĐ-UB ngày 20/8/2001 có nội dung xác định các hộ dân tự ý bao chiếm, xâm canh trên diện tích đất trước đây Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho Nông trường cao su H II nên không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân.
Như vậy, khiếu nại của ông Trương Văn K đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B giải quyết từ trước ngày 01/6/2006 nhưng ông Trương Văn K không thực hiện quyền khởi kiện đến Tòa án. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2011 đến ngày 30/6/2012 (là thời hạn được tiếp tục khởi kiện theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội), ông Trương Văn K cũng không thực hiện quyền khởi kiện, mãi đến ngày 07/02/2018 thì ông Trương Văn K mới có đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính.
Việc các cơ quan Nhà nước giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn K không làm cho ông Trương Văn K không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu khởi kiện. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn K cho rằng ông đã liên tục thực hiện việc khiếu nại đến các cơ quan Nhà nước nhưng các cơ quan Nhà nước không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, nên các cơ quan Nhà nước có lỗi làm cho ông không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu khởi kiện theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo của ông Trương Văn K, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ông Trương Văn K là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng Hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn K đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 54/2018/QĐST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh B.
2. Ông Trương Văn K được miễn toàn bộ án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại TP.HCM - Tòa án nhân dân tỉnh B - VKSND tỉnh B - Các đương sự - Lưu HS, VP | Phạm Văn Công Thụ lý số 253/TLPT-HC ngày 20/3/2019 |