vanban.org

Quyết định 525/2026/QĐ-PT

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 474/2025/TLPT-HC ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế, hành vi hành chính,bồi thường thiệt hại”, giữa:

Người khởi kiện: Bà Trần Thị M, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số B Đ, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là số 250/18 Đoàn Thị Đ1, khu phố A, Đặc khu P, tỉnh An Giang). Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Chiêm Thành L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B ấp A, xã M, huyện C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thị M - Khiếu kiện quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế, hành vi hành chính,bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 474/2025/TLPT-HC ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế, hành vi hành chính,bồi thường thiệt hại”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 229 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TÒA PHÚC THẨM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 525/2026/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt; Các Thẩm phán:Ông Dương Tuấn Vinh; Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án hành chính sơ thẩm số 86/2025/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo như sau: Ngày 01 tháng 10 năm 2025, người khởi kiện bà Trần Thị M có đơn kháng cáo (đơn ghi ngày 01/10/2025) với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.

XÉT THẤY:

. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị M là hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2]. Tòa án cấp phúc thẩm đã 02 (hai) lần mở phiên tòa để xét xử vụ án; cụ thể như sau: [2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ nhất mở vào ngày 09/3/2026:

- Người khởi kiện bà Trần Thị M và người đại diện theo ủy quyền của bà M là ông Chiêm Thành L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không lý do.

- Người bị kiện có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Lê Quốc T có mặt;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Văn H có đơn xin hoãn phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đ vắng mặt. Tòa án cấp phúc thẩm đã hoãn phiên tòa ngày 09/3/2026. [2.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai mở vào ngày 08/5/2026:

- Người khởi kiện bà Trần Thị M và người đại diện theo ủy quyền của bà M là ông Chiêm Thành L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

- Người bị kiện có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Lê Quốc T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt (đơn ghi ngày 07/5/2026);

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Văn H có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đ có mặt. [2.3]. Về thủ tục, Tòa án cấp phúc thẩm đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người khởi kiện là bà Trần Thị M và người đại diện theo ủy quyền của bà M là ông Chiêm Thành L cả hai lần mở phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai, bà Trần Thị M và ông Chiêm Thành L vắng mặt không lý do. [3]. Tại điểm d khoản 1 Điều 229 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định như sau: “Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong các trường hợp sau đây: … d) Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;” Căn cứ theo quy định nêu trên, xét thấy việc bà Trần Thị M là người kháng cáo và ông Chiêm Thành L là người đại diện của bà M vắng mặt không lý do, bị coi như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của đương sự. [4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Căn cứ vào Điều 229 và Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 474/2025/TLPT-HC ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế, hành vi hành chính,bồi thường thiệt hại”, giữa:

- Người khởi kiện: Bà Trần Thị M, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số B Đ, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là số 250/18 Đoàn Thị Đ1, khu phố A, Đặc khu P, tỉnh An Giang). Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Chiêm Thành L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, xã C, tỉnh An Giang).

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh An Giang. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T - Phó Chủ tịch; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H - Phó Chánh văn phòng HĐND và UBND đặc khu P; Địa chỉ: Số D, đường C - D, Đặc khu P, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan: 1. Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là Khu phố S, Đặc khu P, tỉnh An Giang). 2. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh An Giang; Địa chỉ: Số D đường C, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là số D đường C, khu phố B, Đặc khu P, tỉnh An Giang). II. Bản án hành chính sơ thẩm số 86/2025/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. III. Về án phí hành chính phúc thẩm: Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm bà Trần Thị M đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005439 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. IV. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ