vanban.org

Quyết định 524/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Đặng Văn

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về việc nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Đặng Văn
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 524/2023/QĐST-HNGĐBình Chánh, ngày 10 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 407/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6

năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị N.

Địa chỉ: Tổ 5, khu phố Xa C, phường Hưng C, thị xã Bình L, tỉnh Bình P.

Bị đơn: Ông Đặng Văn Thanh H.

Địa chỉ: A8/1, ấp 1, xã Tân K, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 30

tháng 6 năm 2023.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản

ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 30 tháng 6 năm 2023 là hoàn

toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn

và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Đặng Văn

Thanh H.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về việc nuôi con:

Bà Trần Thị N và ông Đặng Văn Thanh H có 02 (hai) con chung là Đặng Thị

H, sinh ngày: 08/3/2004, giới tính: Nữ và Đặng Ngọc Thanh D, sinh ngày:

16/3/2012, giới tính: Nam.

Con chung Đặng Thị H đã thành niên, có khả năng lao động để tự nuôi mình

nên bà Trần Thị N và ông Đặng Văn Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về

việc nuôi con đối với con chung Đặng Thị H.

Bà Trần Thị N và ông Đặng Văn Thanh H thống nhất giao bà Trần Thị N trực tiếp nuôi con chung Đặng Ngọc Thanh D. Bà Trần Thị N tự nguyện không yêu cầu ông Đặng Văn Thanh H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đặng Văn Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung Đặng Ngọc Thanh D, không ai có quyền cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định

tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng,

phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2.2. Về tài sản chung: Bà Trần Thị N và ông Đặng Văn Thanh H thống nhất

xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

2.3. Về nợ chung và các nghĩa vụ chung về tài sản khác: Bà Trần Thị N và

ông Đặng Văn Thanh H thống nhất xác nhận không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là

150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), bà Trần Thị N tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Trần Thị N đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0019783 ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí M. Hoàn trả lại cho bà Trần Thị N một phần số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 150.000 đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Trần Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật Ny sau khi được ban hành và không bị

kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ