vanban.org

Quyết định 524/2021/QĐ-TA

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/11/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Phương H. 2.

Người bị đề nghị; Công an Thành phố Thủ Đức; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "anh Nguyễn Phương H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Phương H. 2.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:524/2021/QĐ-TAThành phố Thủ Đức, ngày 22 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Dương Thuý Quỳnh

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 494/2021/QĐ-TA ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Phương H - Giới tính: Nam

Sinh:1992

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 06/12

Nguyên quán: Thành phố H

Hộ khẩu thường trú:

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không

Tiền án:

- Ngày 17/3/2015, Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H xử 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản

Tiền sự:

- Ngày 21/01/2008, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố H ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng.

- Ngày 07/7/2017, Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng.

Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Minh P

Bị đưa vào Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 từ ngày: 07/9/2021

Vắng mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đoàn Nhị Sơn – Cán bộ Phòng Lao động Thương Binh và xã hội Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm Quốc Phong – Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

Ngày 06/9/2021, Công an phường P, Thành phố T, Thành phố H lập biên bản vi phạm hành chính về việc anh H sử dụng trái phép chất ma tuý. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định trình trạng nghiện ma túy ngày 11/9/2021 của bác sĩ thuộc Cơ sở Xã hội Thanh thiếu niên 2 đã kết luận anh H là người nghiện Methamphetamine chất dạng Amphetamine (ATS) Tại phiếu trả lời kết quả xác minh về tình trạng nơi cư trú ngày 07/9/2021, Công an phường K, thành phố T, Thành phố H xác nhận anh H có hộ khẩu thường trú tại đường N, phường K, thành phố T, Thành phố H nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Tại phiếu trả lời kết quả xác minh về tình trạng nơi cư trú ngày 07/9/2021, Công an xã P, huyện N, tỉnh Đ xác nhận anh H không xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố T, Thành phố H tiến hành lập hồ sơ và có văn bản số 323/UBND ngày 27/10/2021 đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H gửi cho Trưởng phòng Tư pháp Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và đã thông báo cho anh H biết. Ngày 03/11/2021, Trưởng phòng Tư pháp Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành văn bản số 1179/TB-TP thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và đề nghị Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét đề nghị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H. Tại văn bản số 1511/LĐTB ngày 10/11/2021, Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H. Tại phiên họp: Đại diện Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội trình bày về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, kết quả trả lời xác định tình trạng nghiện ma túy, tình trạng nơi cư trú của anh H, các căn cứ pháp lý lập hồ sơ và đề nghị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H, thời hạn từ 21 đến 24 tháng, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý P.

Người bị đề nghị anh H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ đề nghị trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đúng đối tượng, đúng trình tự thủ tục. Người lập hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, người đề nghị đúng thẩm quyền và thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định. Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ đúng thẩm quyền, ban hành thông báo thụ lý và quyết định mở phiên họp còn trong thời hạn xem xét, thông báo các văn bản theo đúng quy định, đảm bảo về thời hạn mở phiên họp; thực hiện đúng trình tự thủ tục xem xét theo quy định. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Phòng Lao động – Thương binh Xã hội thành phố Thủ Đức về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính ngày 06/9/2021, Phiếu xét nghiệm ma túy, Kết quả xác minh tình trạng nghiện ma tuý, Kết quả trả lời tình trạng nơi cư trú của anh H; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên đã có đủ cơ sở kết luận anh H là người đã thành niên, đang nghiện ma tuý và không có nơi cư trú ổn định. Do đó anh H là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét hồ sơ đề nghị đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố T, Thành phố H tiến hành lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 4, 8, 9, 10, 11, 14 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Trưởng Phòng Tư pháp Thành phố Thủ Đức có văn bản kiểm tra tính pháp lý hồ sơ và Trưởng Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 12 và 13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét ý kiến của đại diện của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H, thời hạn từ 21 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma tuý Phú Đức là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét ma tuý là chất gây nghiện được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý, người sử dụng ma tuý sẽ bị nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ bản thân và là nguyên nhân dễ phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Anh H là người nghiện ma tuý, không có nơi cư trú ổn định nên cần thiết phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm giúp anh H cai nghiện, trở thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa, hạn chế các tội phạm và tệ nạn xã hội phát sinh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Phương H. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Anh Nguyễn Phương H vắng mặt tại phiên họp, có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Giao anh Nguyễn Phương H cho Cơ sở cai nghiện ma tuý P; địa chỉ: xã V, huyện G, tỉnh P quản lý trong thời gian cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ