vanban.org

Quyết định 523/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 22, 53 Bộ luật dân sự;

Áp dụng Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bá Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Th-D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 22, 53 Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật tố tụng dân; Điều 184 Bộ luật tố tụng dân; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 523/2019/QĐST-VDSThủ Dầu Một, ngày 08 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp:

Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 470/2019/TLST-VDS ngày 04 tháng 9 năm 2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp số 470/2019/QĐST-VDS ngày 27 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Nguyễn Bá Th, sinh năm 1976; địa chỉ: phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương.

+ Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1937; địa chỉ: phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu ngày 23/8/2019, ông Nguyễn Bá Th là người yêu cầu trình bày: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương là em ruột của ông Nguyễn Bá Th. Từ nhỏ ông Đ đã bị tâm thần bẩm sinh. Hiện nay, ông Đ đang được Ủy ban nhân dân phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương trợ cấp hàng tháng theo diện đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội - không nhận thức và điều khiển được hành vi. Ông Th là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ông Đ. Để bảo đảm quyền và lợi ích của ông Đ khi thực hiện các giao dịch dân sự, ông Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ mất năng lực hành vi dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà S là mẹ ruột của ông Nguyễn Thành Đ. Ông Đ từ khi sinh ra đã chậm phát triển, đến nay ông Đ vẫn không thể điều khiển được hành vi của mình. Ông Đ không biết nói chuyện, không biết chữ. Trong sinh hoạt hàng ngày phải có người giúp đỡ. Hiện nay, trước yêu cầu của ông Nguyễn Bá Th, bà S đồng ý yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đ mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp người yêu cầu ông Nguyễn Bá Th có đơn xin giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 377 Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu ông Nguyễn Bá Th, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S có đơn xin giải quyết vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông Th, bà S.

Về nội dung: Căn cứ vào bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 510/KL-VPYTW ngày 19/9/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bá Th về việc tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ mất năng lực hành vi dân sự quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bá Th về việc tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ mất năng lực hành vi dân sự là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đ có nơi cư trú tại phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hiệu, yêu cầu của ông Th thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu. Người yêu cầu ông Nguyễn Bá Th, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông Th, bà S theo quay định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do ông Th cung cấp thì ông Nguyễn Thành Đ là con ruột của bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Văn L. Từ nhỏ ông Đ đã bị tâm thần bẩm sinh. Hiện nay, ông Đ đang được Ủy ban nhân dân phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương trợ cấp hàng tháng theo diện đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội, không nhận thức và điều khiển được hành vi. Ông Th là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ông Đ. Để bảo đảm quyền và lợi ích của ông Đ khi thực hiện các giao dịch dân sự, ông Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ mất năng lực hành vi dân sự.

Quá trình giải quyết, ông Th có đơn yêu cầu giám định sức khỏe tâm thần của ông Đ. Trên cơ sở đơn yêu cầu của ông Th, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định trưng cầu giám định số 03/2019/QĐ-TCGĐ ngày 05/9/2019 trưng cầu Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa thực hiện việc giám định về sức khỏe của ông Nguyễn Thành Đ. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 510/KL-VPYTW ngày 19/9/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, Hội đồng giám định đã kết luận:

Về y học: Hiện nay, đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng/ Hội chứng Down (F72-ICD.10);

Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Vì vậy, việc ông Nguyễn Bá Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm giải quyết việc dân sự là có cơ sở.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá Th phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 1 Điều 184, các Điều 361, 366, 367, 369, 370, 372, 376, 377 và 378 của Bộ luật tố tụng dân;

- Áp dụng các Điều 22, 53 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bá Th.

Tuyên bố ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: phường HP, thành phố M, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Nguyễn Bá Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp trước đây theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0034483 ngày 30/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ