vanban.org

Quyết định 522/2020/QĐDS-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Nguyễn Văn S:

Tuyên bố: ông Trần Văn P (Liệt sĩ) là cha ruột Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964. Nguyễn Văn S được quyền liên hệ với Cơ quan Tư pháp, Hộ tịch có thẩm quyền để yêu cầu cải chính hộ tịch phù hợp với họ tên thật và phần cha, mẹ ruột của mình theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định việc xác định cha cho con."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Nguyễn Văn S:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:522/2020/QĐDS-ST
Ngày: 17 - 11 - 2020
V/v “Yêu cầu xác định cha cho
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 449/2020/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu “Xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 163/2020/QĐPH-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2020.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964.

Địa chỉ cư trú: ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang. Có mặt;

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà: Trần Thị N, sinh năm 1934.

Địa chỉ cư trú: ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang. Có đơn xin vắng mặt;

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Văn S trình bày: trong thời kỳ chiến tranh, cha anh là ông Trần Văn P có lập gia đình với mẹ anh là bà Trần Thị N. Thời gian chung sống, cha, mẹ anh sinh đươcc một người con chung chính là anh Nguyễn Văn S nhưng do chiến tranh nên cha, mẹ chưa làm giấy tờ tùy thân cho anh.

Sau thời gian tham gia kháng chiến, cha anh là ông Trần Văn P đã hy sinh. Đến năm 1966, mẹ anh lập gia đình với chồng sau là ông Nguyễn Văn B (chết năm 2019) và có thêm những người con nhưng anh không nhớ cụ thể bao nhiêu người.

Do không hiểu hết về pháp luật nên khi làm giấy tờ tùy thân cho anh, mẹ Trần Thị N khai họ tên của anh là Nguyễn Văn S để việc làm giấy được dễ dàng. Từ đó, giấy tờ tùy thân của anh gồm: Giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân và hộ khẩu gia đình đều mang tên Nguyễn Văn S.

Nay anh Nguyễn Văn S yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định ông Trần Văn P là cha ruột Nguyễn Văn S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị N có lời trình bày: bà và ông P chung sống với nhau từ thời chiến tranh, không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống có một người con chung, tên hiện nay là Nguyễn Văn S, sinh năm 1964. Sau khi bà sinh S hơn một tháng gì đó thì ông P hy sinh. Khoảng 3 năm sau bà gặp và chung sống với Nguyễn Văn B (chết ngày 01.3.2019) có 10 người con hiện đã lớn và đều có gia đình riêng. Giữa bà và ông P chỉ có duy nhất một đứa con là Nguyễn Văn S.

Năm sinh thật của bà là 1940, hiện nay tất cả các giấy tờ của bà đều có năm sinh 1940. Trong giấy chứng nhận gia đình lệt sĩ của Trần Văn P và Giấy khai sinh của S thì ghi bà năm sinh 1934 là sai nhưng do gia đình nông dân, không quan tâm, để tới giấy tờ và cho đến hôm nay mới biết là sai.

Về Giấy khai sinh của S, có tên cha Nguyễn Văn B là do lúc đó bà nói với S: cha nào cũng cha nên khi làm giấy khai Nguyễn Văn B chứ thực sự S là con ruột giữa bà và Trần Văn P. Từ trước đến nay S không được hưởng một chế độ nào của nhà nước về cha nó. Nay trước yêu cầu S xin xác định: Trần Văn P là cha của S thì bà đồng ý, không có ý kiến phản đối, nếu xác định được như vậy thì bà rất mừng vì làm như vậy mới đúng thực tế và các giấy tờ mới phù hợp nhau.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp nhận định:

Yêu cầu của đương sự thuộc trường hợp “Yêu cầu xác định cha cho con” được quy định tại khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: bà Trần Thị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt; theo quy định tại các Điều 367 và 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; phiên họp sẽ được tiến hành.

Tại phiên họp anh Nguyễn Văn S trình bày: Vẫn giữ yêu cầu Xác định ông Trần Văn P là cha ruột Nguyễn Văn S.

Quá trình giải quyết bà Trần Thị N trình bày khẳng định: Nguyễn Văn S là con ruột, duy nhất giữa bà với Liệt sĩ Trần Văn P. Lời trình bày của bà N phù hợp với lời trình bày của Nguyễn Văn S, phù hợp với Biên bản xác minh ngày 29/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Long Thạnh. Đồng thời, Công an xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp có Văn bản xác nhận Trần Thị n sinh năm 1934 và Trần Thị N sinh năm 1940 là một người và Trần Văn S sinh năm 1968 và Nguyễn Văn Ssinh năm 1964 là một người. Từ đó đủ căn cứ chứng minh Trần Văn S sinh năm 1968 chính là Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964, con chung của Liệt sĩ Trần Văn P và bà Trần Thị N, do vậy yêu cầu của Nguyễn Văn Scó căn cứ chấp nhận.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Văn S, tuyên bố: ông Trần Văn P là cha ruột Nguyễn Văn S. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

Nguyễn Văn S phải nộp lệ phí việc dân sự theo quy định, các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 149, 361, 367, 369, 370, 378 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Nguyễn Văn S:

- Tuyên bố: ông Trần Văn P (Liệt sĩ) là cha ruột Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964.

Nguyễn Văn S được quyền liên hệ với Cơ quan Tư pháp, Hộ tịch có thẩm quyền để yêu cầu cải chính hộ tịch phù hợp với họ tên thật và phần cha, mẹ ruột của mình theo quy định pháp luật.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Nguyễn Văn S phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số 0005859, ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành lệ phí, không phải nộp thêm.

Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định; các đương sự khác vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ