- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (T)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng đối với ông T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 2 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 52/QĐ-TA | Kế Sách, ngày 18 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thanh Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 145/2025/QĐ-TA ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với:
Họ và tên: T; Nơi thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Ngày 26/7/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 06 tháng; Con ông: T1 và bà: T2. (Vắng mặt)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Mã Thái Huynh, chức vụ: Phó Trưởng Công an xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ông T là người nghiện ma túy, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 06 tháng từ ngày 26/7/2024 đến ngày 26/01/2025; sau đó, ông T đã cai nghiện xong và cư trú tại xã B, huyện C. Ngày 01/3/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với ông T, thời hạn quản lý là 12 tháng từ ngày 01/3/2025 đến ngày 01/3/2026. Tuy nhiên, ông T đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy thì tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận xã B, huyện C vào ngày 28/5/2025; ngày 30/5/2025, Công an xã B, huyện C mời ông T thử test nhanh nước tiểu do có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả test nhanh xác định ông T “dương tính” với chất ma túy; Trạm y tế xã B, huyện C cũng xác định ông T có nghiện ma túy, chất ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine); do đó, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C đã lâ ̣p biên bản vi pha ̣m đối với ông T về hành vi tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy.
Ngày 03/6/2025, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T; cùng ngày 03/6/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra Quyết định về việc giao cho gia đình quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.
Ngày 06/6/2025, Trưởng Công an xã B, huyện C ban hành Đề nghị số 21/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.
Tại phiên họp, đại diện Cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên nội dung Đề nghị số 21/ĐN-CNBB ngày 06/6/2025 của Trưởng Công an xã B, huyện C; đồng thời, đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đồng thời, đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo đề nghị của đại diện Cơ quan đề nghị.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách nhận định như sau:
Người bị đề nghị ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp nhưng vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ vào biên bản làm việc, bản tường trình của ông T, biên bản v/v lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị đã có đủ cơ sở để kết luận ông T là người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020); khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét thấy, hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T theo đề nghị của Trưởng Công an xã B, huyện C được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nêu trên; các Điều 7, 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Ông T là ngườ i nghiê ̣n ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, cụ thể: Ngày 30/5/2025, ông T đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy thì bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận xã B, huyện C vào ngày 28/5/2025, được cơ quan có thẩm quyền xác định là có nghiện ma túy. Do đó, để điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác cho ông T, tạo điều kiện cho ông T được giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách, lao động trị liệu, học nghề dướ i sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm mục đích giúp ông T sớm tái hòa nhập với cộng đồng thì việc Trưởng Công an xã B, huyện C đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng là cần thiết và có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020), khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, nên được Tòa án chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tại phiên họp là có căn cứ, nên được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020); khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 3, 20, 23, 24, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; các Điều 1, 2, 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng đối với ông T.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày ông T bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Ông T vắng mặt tại phiên họp, có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Trưởng Công an xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng tổ chức đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKSND huyện Kế Sách; - Công an xã B, huyện C; - Công an tỉnh Sóc Trăng (PC04); - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND xã B, huyện C; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Quốc Việt |