- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 52/2018/QĐST-DS Ngày: 23-01-2018 V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Nhu
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 323/2017/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2017 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 232A/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc D, năm sinh 1977; địa chỉ: 1295 Đường N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Phạm Thị Ngọc H, năm sinh 1980; địa chỉ: 78/9 Đường T, tổ 1A, khu phố 2A, phường G, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Bà Phạm Thị Ngọc P, năm sinh 1983; địa chỉ: tổ 10, ấp 6, xã Y, huyện Q, tỉnh Đồng Nai.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Bà Phạm Thị Ngọc D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Chí U, năm sinh 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: 1295 Đường N, Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Ngọc D yêu cầu tuyên bố ông Phạm Chí U, năm sinh 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: 1295 Đường N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc giải quyết việc dân sự: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc D tuyên bố ông Phạm Chí U là đã chết.
Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự như các giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, bản án và văn bản xác nhận của Công an Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét thấy:
Bà Trần Thị L, năm sinh 1958 và ông Phạm Chí U, năm sinh 1955 có 03 con chung là Phạm Thị Ngọc D, năm sinh 1977; Phạm Thị Ngọc H, năm sinh 1980 và Phạm Thị Ngọc P, năm sinh 1983. Cha, mẹ của ông Phạm Chí U (ông, bà nội của các đương sự) đã chết từ lâu, các đương sự không biết tên, năm sinh, năm chết của ông bà vì tất cả giấy tờ đều đã thất lạc. Do vậy, bà Phạm Thị Ngọc D có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố cha là ông Phạm Chí U đã chết.
Theo lời trình bày của các đương sự và xác nhận của Công an Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 28 tháng 6 năm 2017 thì “Ông Phạm Chí U - sinh năm 1955 có hộ khẩu thường trú tại 1295 Đường N, Phường C, quận B (đã xóa khẩu), sau đó ngày 15/7/2004 Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên xử mất tích theo bản án 448/TLQĐ của TAND quận Tân Bình. Hiện nay không có cư trú tại địa chỉ trên (ông U đăng ký HKTT từ 1994, xóa khẩu 18/3/2002)”. Bà Phạm Thị Ngọc D đã thông báo tìm kiếm thông tin ông Phạm Chí U trên báo, đài, cổng thông tin điện tử, cụ thể: Đăng tin trên báo Công lý các số 60 ngày 28 tháng 7 năm 2017, số 61 ngày 02 tháng 8 năm 2017 và số 62 ngày 04 tháng 8 năm 2017; Phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam các ngày 07, 08 và 09 tháng 8 năm 2017; Cổng thông tin điện tử Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 7 năm 2017 nhưng vẫn không có tin tức về ông Phạm Chí U. Như vậy, ông Phạm Chí U đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc D tuyên bố ông Phạm Chí U đã chết.
Về xác định ngày chết của ông Phạm Chí U như sau: Theo các đương sự trình bày, ông Phạm Chí U bỏ nhà đi từ ngày 18 tháng 3 năm 2002 và bỏ đi khỏi địa phương luôn không thấy về. Theo xác nhận của Công an Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Phạm Chí U đăng ký hộ khẩu thường trú từ năm 1994 và đã bị xóa khẩu từ ngày 18 tháng 3 năm 2002. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Như vậy, ngày chết của ông Phạm Chí U được xác định là ngày 18 tháng 3 năm 2007.
Về quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Chí U với bà Trần Thị L đã được Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử bằng bản án số 58/LHST ngày 26 tháng 5 năm 2004. Do đó, về quan hệ hôn nhân của ông Phạm Chí U đã chấm dứt.
Căn cứ vào Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Phạm Chí U (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Bà Phạm Thị Ngọc D thực hiện đăng ký khai tử cho ông Phạm Chí U theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Về lệ phí việc dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc D phải chịu lệ phí là 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Ngọc D.
Tuyên bố ông Phạm Chí U, năm sinh 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: 1295 Đường N, Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Ngày chết của ông Phạm Chí U là ngày 18 tháng 3 năm 2007.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Phạm Chí U (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Bà Phạm Thị Ngọc D thực hiện đăng ký khai tử cho ông Phạm Chí U theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Phạm Thị Ngọc D phải chịu lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà Diễm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số : AA/2017/0006502 ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Phạm Thị Ngọc D có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà Phạm Thị Ngọc P, bà Phạm Thị Ngọc H vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ quyết định. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân Phường C, quận Tân Bình; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Tuấn Nhu |