vanban.org

Quyết định 51/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TX. An Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 06/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

371; Khoản 1 Điều 372 của Bộ luật TT Dân sự.

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị H1; Tuyên bố ông Nguyễn H2 - sinh 1949, đã chết ngày 06/7/2018. Ngày 06/7/2018 là ngày làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ về nhân thân, về tài sản, về hôn nhân gia đình, về thừa kế của ông Nguyễn H2. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Lê Thị H1 yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn H2 đã chết"
  • Tòa quyết gì? 371; Khoản 1 Điều 372 của Bộ luật TT Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật TT Dân sự; Điều 35 Bộ luật TT Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2018/QĐST-VDS
Ngày 06 / 7 / 2018
"V/v: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

Thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Dung

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên họp: Ông Lưu Công Quyền – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 15/2016/TLST–VDS ngày 07 tháng 12 năm 2016 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”.

Theo Quyết định mở phiên họp số 26/2018/QĐ.MPH-VDS ngày 26 tháng 6 năm 2018, của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn:

1. Người yêu cầu: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1949

Địa chỉ: Đường T, khu vực A, phường N, thị xã A, Bình Định.

2. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Ông Nguyễn H2, sinh năm 1949

Nơi cư trú cuối cùng: Đường T, khu vực A, phường N, thị xã A, Bình Định.

2.2. Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1967

2.3. Anh Nguyễn Sơn H3, sinh năm 1969

2.4. Chị Mai Thị L, sinh năm 1974.

2.5. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984.

2.6. Anh Nguyễn Quốc H4, sinh năm 1985

2.7. Anh Trần Hữu T2, sinh năm 1998.

2.8. Anh Nguyễn Sơn H5, sinh năm 1996.

2.9. Chị Nguyễn Thị Xuân H6, sinh năm 1997.

Cùng địa chỉ: Đường T, khu vực A, phường N, thị xã A, Bình Định.

2.10. Anh Trần Hữu T3, sinh năm 1972.

2.11. Trần Nguyễn Quỳnh T4, sinh năm 2003

2.12. Anh Nguyễn Quốc A, sinh năm 1982

Cùng địa chỉ: thôn T, xã N, thị xã A, Bình Định.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Lê Thị H1 yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn H2 (chồng bà H1) đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1.] Về thủ tục: Ông Nguyễn H2 là chồng của bà Lê Thị H1, vợ chồng ông H2, bà H1 có 08 người con chung: Nguyễn Thị Mỹ D, Nguyễn Sơn H7 (chết – có vợ là Mai Thị L, 02 con là Nguyễn Sơn H5, Nguyễn Thị Xuân H6), Nguyễn Thị Mỹ D (chết – có chồng là Trần Hữu T3, con là Trần Hữu T2, Trần Nguyễn Quỳnh T4), Nguyễn Sơn H3, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Quốc H4, Nguyễn Sơn H5, Nguyễn Quốc A.

Ông H2 đã rời khỏi địa phương (thôn A, xã N, huyện A, Bình Định) từ năm 1987 đến nay, không có tin tức gì. Mẹ con bà Lê Thị H1 đã tìm kiếm và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần nhưng cũng không có kết quả.

Bà Lê Thị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn H2 là đã chết; Căn cứ vào khoản 4 điều 27; điểm a khoản 2 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã An Nhơn.

Các đương sự và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều thống nhất: xác định ông Nguyễn H2 đã rời khỏi địa phương từ năm 1987 đến nay không có tin tức gì, đến nay họ cũng không nhận được bất cứ thông tin gì của ông Nguyễn H2, chính quyền địa phương cũng xác nhận: ông Nguyễn H2 đã bỏ địa phương đi từ năm 1987 đến nay.

Sau khi thụ lý vụ việc, Toà án nhân dân thị xã An Nhơn đã ra quyết định thông báo tìm kiếm ông Nguyễn H2 trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối Cao; Báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên tiếp. Đã qua thời hạn thông báo 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, theo quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn H2 vẫn không về và cũng không có tin tức gì về ông Nguyễn H2. Do đó có đủ cơ sở khẳng định ông Nguyễn H2 đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là ông Nguyễn H2 còn sống.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến trước

khi mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H1, tuyên bố ông Nguyễn H2 đã chết.

Xét yêu cầu của bà Lê Thị H1 về việc tuyên bố ông Nguyễn H2 đã chết là có cơ sở, phù hợp quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và có đầy đủ căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 71 BLDS nên được Toà án chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 điều 35; các Điều 361; 393;

371; Khoản 1 Điều 372 của Bộ luật TT Dân sự. Khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự. Điều 9 và Điều 37, điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị H1; Tuyên bố ông Nguyễn H2 - sinh 1949, đã chết ngày 06/7/2018.

Ngày 06/7/2018 là ngày làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ về nhân thân, về tài sản, về hôn nhân gia đình, về thừa kế của ông Nguyễn H2.

2. Về lệ phí: Bà Lê Thị H1 phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên lai thu tiền số 0002505 ngày 07/12/2016

3/ Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Ông Nguyễn H2 có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định.

Cỡ chữ