- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Đỗ Trung Vinh"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 2/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH, T phố HN.
- Căn cứ chính? Điều 183 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ HN ---------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 505/2021/QĐPT-DS | H.N, ngày 29 tháng 12 năm 2021. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H.N
Với Hội đồng phiên họp phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đ.S.H Các Thẩm phán:
Ông L.T.B;
Ông Đ.N.L.
Thư ký phiên họp: Ông N.M.T–Thẩm tra viên. Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Ông N.D.H - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 02/8/2021; TAND huyện ƯH, T phố HN đã căn cứ vào các Điều: 132,149, khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự; các Điều 48, 183, 184, 185, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu”, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Trung V, sinh năm 1957. Địa chỉ: thôn Hạ, xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đ, HN.
2. Bị đơn: Ngân hàng NN&PTNT. Trụ sở: số 2 Láng Hạ, phường T Công, quận Đống Đa, HN. Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T1- Phó giám đốc phụ trách điều hành Ngân hàng NN&PTNTchi nhánh ƯH. Người được ủy quyền lại: Chị Nguyễn Thị M - Phó trưởng phòng phụ trách điều hành Phòng tín dụng ngân hàng NN&PTNTchi nhánh ƯH.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị M2, sinh năm 1962;
3.2. Chị Đỗ Nguyễn Thúy H, sinh năm 1986;
3.3 Anh Đỗ Trung Đ, sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Thôn Hạ, xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đ, HN.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Trung V theo Giấy ủy quyền lập ngày 08/5/2020.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 19/8/2021, ông V không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 02/8/2021 của TAND huyện ƯH với lý do: TAND huyện ƯH căn cứ đề nghị của phía bị đơn áp dụng điều 132 và khoản 3 Điều 150 Bộ luật dân sự 2015 cho rằng thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự đã hết là trái với quy định tại khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 314; điểm g khoản 1 Điều 217; điểm a khoản 1 Điều 192; khoản 2 Điều 68; Điều 186 BLTTDS 2015. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông V; Sửa Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 02/8/2021 của TAND huyện ƯH về điều luật áp dụng.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét đơn kháng cáo của ông V cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng phúc thẩm nhận định như sau:
Ngày 06/09/2010, hộ gia đình ông Đỗ Trung V gồm các T viên gồm: Ông Đỗ Trung V, bà Nguyễn Thị M2, chị Đỗ Nguyễn Thúy H đã ký hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 458 (sau đây viết tắt là: HĐTC số 458) được UBND xã Phùng Xá chứng thực ngày 07/9/2010. Theo HĐTC số 458, hộ gia đình ông V do ông V là chủ hộ thế chấp với Ngân hàng NN&PTNT – Chi nhánh ƯH (sau đây viết tắt là: NN&PTNT– chi nhánh ƯH): Quyền sử dụng 254 m2 gồm hai thửa đất: Thửa đất số 102,diện tích 88m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 955876 và thửa đất số 101, diện tích 166 m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 899762 do UBND huyện Mỹ Đ cấp cho hộ ông Đỗ Trung V và tài sản gắn liền trên đất là nhà 02 tầng, diện tích sử dụng 100 m2 tại địa chỉ: Xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đ, HN để đảm bảo nghĩa vụ trả khoản nợ cho Công ty cổ phần Nam Đô đã vay tại NN&PTNT– chi nhánh ƯH (Hạn mức bảo đảm là 1.450.000.000 đồng, bao gồm cả gốc, lãi suất và phạt phát sinh).
Ngày 08/5/2020, ông V có đơn khởi kiện gửi TAND huyện ƯH yêu cầu tuyên bố HĐTC số 458 vô hiệu với lý do: Hộ gia đình ông có 04 T viên nhưng khi ký HĐTC số 458 trên chỉ có 03 T viên là ông V, bà M2 và chị H. Còn con ông là anh Đỗ Trung Đ không ký vào HĐTC số 458 nên HĐTC số 458 nêu trên là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình ông.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/7/2021, ông V thừa nhận: Đến năm 2018 ông mới phát hiện ra quyền lợi bị xâm phạm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2021, đại diện theo ủy quyền của NN&PTNT– chi nhánh ƯH có quan điểm: Đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án bởi đã hết thời hiệu khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 132 và khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, bác yêu cầu của ông V về yêu cầu tuyên HĐTC số 458 vô hiệu.
Xét thấy: Ngày 06/09/2010, ông V là chủ hộ cùng vợ là bà M2, con là chị H đã trực tiếp ký HĐTC số 458 trên cơ sở tự nguyện. Như vậy ông V và những người trực tiếp ký hợp đồng biết và buộc phải biết quyền, lợi nghĩa vụ của mình kể từ ngày ký hợp đồng thế chấp (ngày 06/9/2010) và thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn ông V được tính từ ngày 06/9/2010. Ông V cho rằng đến năm 2018 ông mới biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm là không có cơ sở chấp nhận.
Theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Mặt khác, thời hiệu khởi kiện của ông V không thuộc trường hợp bất khả kháng hay vì lý do khách quan hoặc thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế hay không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 132 và Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, ngày 08/5/2020, ông V mới làm đơn khởi kiện là hết thời hiệu theo quy định tại các Điều 132, 149; khoản 3 Điều 150, Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các Điều: 48,183,184,185,217,218,219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 40/2021/TLST- DS ngày 01/7/2021 về việc tranh chấp “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp vô hiệu” giữa nguyên đơn là ông Đỗ Trung V với bị đơn: Ngân hàng NN&PTNT – Chi nhánh ƯH là có căn cứ.
Với những phân tích nêu trên, Hội đồng cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đỗ Trung V. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 02/8/2021 của TAND huyện ƯH.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm.
Về án phí: Ông V là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự.
Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/QĐ-ST ngày 2/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH, T phố HN.
2. Về án phí: Hoàn trả cho ông Đỗ Trung V 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2020/0057174 ngày 01/7/2021 và số AA/2020/0057120 ngày 26/8/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện ƯH, T phố HN.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS ND T phố HN; - TAND huyện ƯH; - Chi cục THADS huyện ƯH; - Lưu hồ sơ VA /VP. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Đ.S.H |