- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N - Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B"
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 157 Luật Tố tụng hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Số: 504/2019/QĐ-PT QUYẾT!ĐỊNH! |
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!
QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!HÀNH!CHÍNH!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH"
Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:"
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:
Bà Phan Thụy Vi
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Kim Phượng
Bà Phạm Thị Mai Xuân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Đặng Thị Hồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
2428/2018/QĐST-HC ngày 22 tháng 11 năm 2018,
Tòa án nhân dân quận B đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 143, Điều
144, điểm a khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 của Luật Tố tụng hành chính
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định
hành chính”, giữa:
Người"khởi"kiện:"Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1942
Địa chỉ: Phường 26, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người"bị"kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B
Địa chỉ: Phường 14, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ P – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
quận B.
(Văn bản ủy quyền số 85/GUQ-UBND ngày 22/11/2018)
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1942
Địa chỉ: Phường 26, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Quản Thế C, sinh năm 1937
Địa chỉ: Phường 26, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Quản Xuân P1, sinh năm 1961
Địa chỉ: Phường 26, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền số công chứng 5774 lập ngày 06/3/2015 tại
Phòng Công chứng số 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
Tại đơn kháng cáo ngày 23/11/2018, người khởi kiện ông Nguyễn Văn N
trình bày: Ông kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 2428/2018/QĐST-HC ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân quận B với lý do ông nhận được giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa xét xử vào lúc 08 giờ ngày 22/11/2018. Ngày 21/11/2018, ông có làm đơn xin hoãn phiên tòa với lý do gia đình có việc đột xuất. Ông vắng mặt lần đầu lẽ ra Tòa án nhân dân quận B phải hoãn phiên tòa nhưng Tòa án lại ra quyết định đình chỉ là chưa đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp
luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp. Tại phiên họp phúc thẩm, Hội đồng phiên họp phúc thẩm thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Ngày 02/10/2018, Tòa án nhân dân quận B ban hành Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 394/2018/QĐST-HC, phiên tòa mở ngày 23/10/2018. Tuy nhiên, đến 09 giờ cùng ngày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị V vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 301/2018/QĐST-HC có nội dung thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 08 giờ ngày 22/11/2018. Tại phiên tòa mở lại ngày 22/11/2018, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N vắng mặt. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và việc hoãn phiên tòa là do Tòa án, tại phiên tòa được mở lại người khởi kiện vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định người bị kiện được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 157, Điều 162 Luật Tố tụng hành chính để hoãn phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, từ đó quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N về việc hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 2428/2018/QĐST-HC ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân quận B.
XÉT!THẤY:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N làm trong thời hạn
luật định nên chấp nhận.
Về nội dung:
Ngày 02/10/2018, Tòa án nhân dân quận B ra Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 394/2018/QĐST-HC, thời gian mở phiên tòa vào lúc 08 giờ 00 phút ngày
23/10/2018.
Ngày 23/10/2018, Tòa án nhân dân quận B ra Quyết định hoãn phiên tòa
số 301/2018/QĐST-HC với lý do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Trần Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 1 nhưng vắng mặt, thời gian mở
lại phiên tòa xét xử vụ án vào lúc 08 giờ ngày 22/11/2018.
Ngày 21/11/2018, ông N nộp đơn xin hoãn phiên tòa với lý do có việc riêng.
Ngày 22/11/2018, Tòa án nhân dân quận B ra Quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án số 2428/2018/QĐST-HC với lý do người khởi kiện ông Nguyễn
Văn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, ông N không có
đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng,
trở ngại khách quan theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng
hành chính năm 2015.
Hội đồng phiên họp phúc thẩm xét thấy: Tại biên bản phiên tòa ngày
23/10/2018 thể hiện ông Nguyễn Văn N có mặt tại phiên tòa. Tòa án nhân dân
quận B ra quyết định hoãn phiên tòa ngày 23/10/2018 do bà Trần Thị V là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, việc hoãn phiên tòa ngày 23/10/2018
không phải do lỗi của ông N. Như vậy, việc ông N vắng mặt tại phiên tòa ngày
22/11/2018 phải được xác định là triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt, không
thuộc trường hợp triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Ngoài ra, ngày 21/11/2018 ông Nguyễn Văn N đã có đơn xin hoãn phiên
tòa ngày 22/11/2018 và không biết đơn của ông không được chấp nhận do Tòa
án nhân dân quận B không giải thích. Việc ông N đã có đơn xin hoãn phiên tòa
thể hiện ý chí chủ quan của ông là không từ bỏ việc khởi kiện. Tòa án cấp sơ
thẩm đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 143, điểm a khoản 2 Điều 157 để đình
chỉ giải quyết vụ án là chưa đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Do đó xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn
Văn N, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
2428/2018/QĐST-HC ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B.
Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N được chấp nhận nên ông N
không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 226, điểm c khoản 5 Điều 243, Điều 32 của Luật Tố tụng
hành chính;
Căn cứ Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số
2428/2018/QĐST-HC ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B;
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải
quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
2. Về án phí:
Án phí hành chính sơ thẩm: Được xác định lại khi giải quyết lại vụ án
theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí
hành chính phúc thẩm, hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn N tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0005792 ngày 29/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận B.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định. Nơi!nhận:!! !
!
!
!
!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM!
- Tòa án nhân dân Tối cao;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP
- Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Tòa án nhân dân quận B;
- Chi cục THADS quận B;
- Các đương sự;
- Lưu.!!!!!!!!!!!!!!!
!
!
!
!
!!!!!!!Phan!Thụy!Vi!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!