vanban.org

Quyết định 50/2025/QĐ-TA

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/05/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Thành T1, sinh ngày 01/10/1988.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 30/4/2025. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, người bị áp dụng bi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "CAI NGHIỆN BẮT BUỘC LÊ THÀNH TR"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Thành T1, sinh ngày 01/10/1988.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 50/2025/QĐ-TAGò Công, ngày 27 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1.Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

2.Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Long.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 50/2025/QĐ-TA ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Lê Thành T1 (tên thường gọi: Tửng), sinh ngày 01/10/1988; Mã số định danh: 082088018212 (chưa làm căn cước công dân). Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn 4/12. Nguyên quán: huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn định.

Con ông: Lê Văn H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1961.

- Tiền án: Không có.

- Tiền sự: 01 lần: Quyết định số 12/2024/QĐ-TA ngày 03/01/2024 của Toà án nhân dân thị xã Gò Công (nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng.

(Đối tượng Lê Thành T1 có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị ông Trần Minh T2, chức vụ: Trưởng Công an phường B. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy K – Cảnh sát khu vực, Công an B (theo giấy ủy quyền số 302/GUQ.CAP ngày 13/5/2025) có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công: Bà Trần Thị Tám - Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai

nghiện bắt buộc có những hành vi vi phạm hành chính sau:

Ngày 30/4/2025 Công an phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang mời đối tượng test nhanh bằng thanh thử test loại ma tuý tổng hợp, kết quả dương tính (01 vạch). Qua làm việc đối tượng thừa nhận có sử dụng ma túy vào ngày 30/4/2025. Trung tâm y tế thành phố G xác định Lê Thành T1 nghiện ma tuý loại Amphetamine. Công an phường B, thành phố G biên bản vi phạm hành chính ngày 30/4/2025. Đồng thời cho xác minh nơi cư trú của Lê Thành T1, hiện Lê Thành T1 không có nơi cư trú ổn định, công an phường B tiến hành thủ tục lập hồ sơ đưa Lê Thành T1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 30/4/2025, Ủy ban nhân dân phường B1 có Quyết định số 67/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ ngày 30 tháng 4 năm 2025 đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án và cùng ngày Công an phường 2 giao người bị quản lý cùng hồ sơ cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang.

Tại bản đề nghị số 303/2025/ĐN- CNBB ngày 13/5/2025 của Trưởng công an B, thành phố G đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thành T1.

Tại phiên họp:

Ý kiến của cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xem xét quyết định đưa Lê Thành T1 vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị: Xem xét giảm nhẹ thời gian đi cai nghiện để sớm về lo cho gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công phát biểu quan điểm:

Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Căn cứ vào hành vi vi phạm của Lê Thành T1, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xem xét quyết định đưa Lê Thành T1 vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và diễn biến tại phiên họp.

Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền của Trưởng Công an phường A thành phố Gò Công được quy định tại Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.

Hồ sơ đề nghị có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ đúng quy định.

Về nội dung đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị xét thấy, ngày 30/4/2025 Công an B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang mời đối tượng test nhanh bằng thanh thử test loại ma tuý tổng hợp, kết quả dương tính (01 vạch). Qua làm việc đối tượng thừa nhận có sử dụng ma túy vào ngày 30/4/2025, trung tâm y tế thành phố G xác định Lê Thành T1 nghiện ma tuý loại Amphetamine. Công an phường B, thành phố G biên bản vi phạm hành chính ngày 30/4/2025. Đồng thời cho xác minh nơi cư trú của Lê Thành T1, hiện Lê Thành T1 không có nơi cư trú ổn định, Công an phường B tiến hành thủ tục lập hồ sơ đưa Lê Thành T1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bản thân Lê Thành T1 cũng đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện trong bản tường trình và tại phiên họp.

Hành vi của Lê Thành T1 đã đủ điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Về tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm: hành vi vi phạm của Lê Thành T1 xâm phạm đến những quy định về quản lý chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng tình hình an ninh chính trị tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đối tượng Lê Thành T1 thành thật khai báo, ăn năn hối lỗi cho hành vi vi phạm của mình, tuy nhiên đối tượng có nhân thân xấu đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong lại tái nghiện, không tự cai nghiện được, do đó, cần có thời gian đủ để Lê Thành T1 cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý, lao động, học tập sửa chữa sai lầm, phát triển bản thân, sống lành mạnh có ích cho gia đình và xã hội khi tái hòa nhập cộng đồng.

Đề nghị của Đại diện công an B thành phố G, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

- Căn cứ các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020;

- Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;

- Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự thủ tục xem xét quyết định xử lý vi phạm hành chính tại tòa án nhân dân.

- Nghị quyết số 04/2015/NQ – HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.

- Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân Tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Thành T1, sinh ngày 01/10/1988. Nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Hiện không có nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 30/4/2025.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công có quyền kháng nghị đối với quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang đưa Lê Thành T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ