vanban.org

Quyết định 50/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C.

Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: a. Về tình cảm: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C nhất trí thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn N-C"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 50/2022/QĐST-HNGĐMai Sơn, ngày 29 tháng 03 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 149/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Chị Cầm Thị N, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1993. Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ngân Hàng chính sách xã hội Việt Nam. Địa chỉ: Số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quốc Thắng - Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn M - Phó đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Căn cứ vào Điều 147, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 21 tháng 03 năm 2022;

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 21 tháng 03 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C.

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

a. Về tình cảm: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C nhất trí thuận tình ly hôn.

b. Về con C: Chị Cầm Thị N và anh Lò Văn C có 02 con C là cháu Lò Minh Hiếu, sinh ngày 02/11/2013 và cháu Lò Thị Thu Hoài, sinh ngày 30/08/2018; Thống nhất thỏa thuận sau khi ly hôn chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thị Hoài Thu cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) anh Lò Văn C là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu Lò Minh Hiếu cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con C cùng nhau.

Sau khi ly hôn, chị N, anh C được quyền thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; không ai được quyền ngăn cản chị N, anh C thực hiện quyền này theo quy định của Điều 81, 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

c. Về tài sản C: Không có.

d. Về nợ C: Chị Cầm Thị N có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng chính sách xã Hội huyện Mai Sơn với số tiền là 10.000.000đ vào tháng 12 năm 2022. Anh C có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng chính sách xã Hội huyện Mai Sơn số tiền là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) và lãi phát sinh tương ứng theo quy định của pháp luật.

đ. Về án phí: Chị N và anh C được miễn án phí dân sự sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn theo biên lai số AA/2021/0001531 ngày 07 tháng 03 năm 2021.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ