- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2019/HS-PT Ngày 17-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuệ;
Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Hà Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo:
Hà Văn T, sinh ngày 11/8/1989 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N, sinh năm 1964 và bà Dương Thị T, sinh năm 1967; vợ Hoàng Thị H; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị xử lý kỷ luật; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/01/2019, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 01/02/2019, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh tại ngoại đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 19 giờ 30 phút, ngày 14/01/2019, tại thôn N, xã H, thành phố L; Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện chiếc xe ô tô Conterner Biển kiểm soát 98C-17245 kéo theo rơ moóc Biển kiểm soát 98R-01232, do Hà Văn T điều khiển đi theo hướng thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn – Thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, phát hiện 03 bánh pháo cuộn tròn diện 06 x 40 cm trong cabin xe, 05 bánh pháo cuộn tròn có diện 06 x 40 cm trong hộp đựng đồ rơ moóc, 05 giàn pháo loại 36 quả/giàn có diện 14 x 14 x 14,5 cm và 48 quả pháo hình lựu đạn cất giấu trong máy phát điện. Trên xe ngoài Hà Văn T còn có anh Linh Văn B đi nhờ xe. Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn đã đưa Hà Văn T cùng anh Linh Văn B về Công an thành phố Lạng Sơn lập biên bản sự việc; vật chứng thu giữ gồm: Toàn bộ số pháo nêu trên và 01 điện thoại di động của Hà Văn T. Tại biên bản xác định trọng lượng, chủng loại pháo lập hồi 20 giờ 00 phút ngày 14/01/2019 tại Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xác định: 05 giàn pháo loại 36 quả/giàn có trọng lượng 07 kg, 08 bánh pháo cuộn tròn có trọng lượng 14 kg, 48 quả pháo hình lựu đạn có trọng lượng 02 kg; tổng trọng lượng 23 kg. Tại Kết luận giám định số 56/KL-PC09 ngày 17/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận các mẫu vật thu giữ của Hà Văn T đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ. Tại bản Cáo trạng số 47/KSĐT ngày 27 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội Vận chuyển hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 19 (mười chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 11(mười một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra, Bản án còn xác nhận về việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra; quyết định về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 15 tháng 4 năm 2019, bị cáo Hà Văn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm là đúng người, đúng tội, không oan. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 01(một) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới là đơn đề nghị xác nhận có nội dung bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi hai con còn nhỏ, Trưởng Công an xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là nơi bị cáo cư trú xác nhận và đề nghị Tòa xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, đây là những tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo Hà Văn T đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để kết luận: Ngày 14/01/2019, Hà Văn T có hành vi vận chuyển 23 kg pháo nổ từ khu vực bãi X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về tỉnh Bắc Giang, khi đến khu vực đường Quốc lộ 1A, thôn N, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì bị tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện, thu giữ tang vật, lập biên bản sự việc. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Hà Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hà Văn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Hà Văn T tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 và xử phạt bị cáo mức án 01 năm 01 tháng tù là thỏa đáng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hà Văn T còn cung cấp thêm tình tiết mới là đơn đề nghị xác nhận có nội dung bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi hai con nhỏ, Trưởng Công an xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là nơi bị cáo cư trú xác nhận và đề nghị Tòa xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, bị cáo Hà Văn T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là tình tiết mới cần được xem xét khi lượng hình. Như vậy, bị cáo Hà Văn T không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trên cơ sở đánh giá về nhân thân, điều kiện phạm tội, mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hà Văn T. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn T, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo. Điều đó là phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. [4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Hà Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn T, sửa một phần về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể: 1. Về tội danh và hình phạt Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 01(một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án (17/7/2019). Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hà Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS tp Lạng Sơn, tỉnh. Lạng Sơn; - Công an tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Tổ HCTP, KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ,Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |