- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu công nhận một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 498/2025/QĐST-DS | Tân Phú, ngày 18 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Tuyết Nhung
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trúc Phương – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 1096/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 931/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phạm Thị T, sinh ngày 30/3/1972;
Địa chỉ thường trú: C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: G Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với: Ông Trần Đức B, sinh ngày 10/7/1968;
Địa chỉ thường trú: C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: G Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu- bà Phạm Thị T trình bày: Bà Phạm Thị T và ông Trần Đức B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2000. Quá trình chung sống, đến năm 2009 thì ông Trần Đức B bắt đầu có những biểu hiện bất thường về tâm lý. Ông Trần Đức B thường xuyên la hét, đi lang thang nhiều ngày và thậm chí cón có hành vi chặn xe tải. Gia đình đã đưa ông Trần Đức B đi khám và điều trị tại bệnh viện T1 tại số G V, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi xuất viện, ông B vẫn điều trị theo thuốc của bác sĩ chỉ định.
Đến năm 2019, tình hình bệnh của ông Trần Đức B trở nặng hơn. Gia đình phải đưa ông B đi điều trị ở nhiều nơi. Đến năm 2021 thì ông B được điều trị tại nhà và tái khám, lấy thuốc tại Trung tâm y tế quận T. Năm 2023, ông Trần Đức B bị tai biến và phải nhập viện điều trị tại Bệnh viện quận T. Sau cơn tai biến đến nay, ông B mất khả năng nói và có dấu hiệu suy giảm trí nhớ nghiêm trọng. Hiện nay ông B không tự chủ được nên mọi sinh hoạt của ông B đều phụ thuộc vào bà T và các con. Do đó, nay bà Phạm Thị T đề nghị Toà án tuyên bố ông Trần Đức B mất năng lực hành vi dân sự.
Tại phiên họp:
Bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết, Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn giao các văn bản, thông báo thụ lý, thời hạn chuyển hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát.
- Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Phú chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc tuyên bố ông Trần Đức B mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền và yêu cầu về giải quyết việc dân sự: Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Đức B mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Trần Đức B có nơi cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục giải quyết vắng mặt đương sự: Bà Phạm Thị T có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự nên Toà án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt đương sự theo quy định khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Qua lời trình bày của bà Phạm Thị T là vợ của ông Trần Đức B cho biết hiện nay ông Trần Đức B mất khả năng nói và có dấu hiệu suy giảm trí nhớ nghiêm trọng, không tự chủ được nên mọi sinh hoạt của ông B đều phụ thuộc vào bà T và các con.
Tại Kết luận Giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 2999/KLGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Thành phố H đối với đối tượng giám định là: Ông Trần Đức B, sinh năm 1968; Địa chỉ thường trú: C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: G Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“1.1 Về y học:
Đương sự có: Sa sút tâm thần trong bệnh mạch máu não, mức độ nặng/ Tâm thần phân liệt, thể di chứng (F01/F20.5-ICD 10).
1.2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Từ nhận định trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Đức B mất năng lực hành vi dân sự.
Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên họp của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của chủ toạ phiên họp.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T phải chịu lệ phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà bà Phạm Thị T đã nộp theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
Tuyên bố: Ông Trần Đức B, sinh ngày 10/7/1968; Giới tính: nam.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 22/11/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH; Địa chỉ thường trú: C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: G Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà bà Phạm Thị T đã nộp theo Biên lai thu số 0045559 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp thì thời hạn đó tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THADS quận Tân Phú; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Tuyết Nhung |