- Tranh chấp gì? "Đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 49/QĐ-TA | Giồng Riềng, ngày 18 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Danh Thanh Phát.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thái Trang.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 45/QĐ-TA ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 09/11/1993.
Số căn cước công dân: 091093011385.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 5/12.
Quê quán: Huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Nơi thường trú: Ấp Hòa A, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: Ấp Hòa A, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Nghề nghiệp: Không.
Con ông Nguyễn Bé N (chết) và bà Ngô Thị N1.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lương Hồng Hải E-chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Kiên Giang (văn bản ủy quyền số: 46/GUQ-LĐTBXH ngày 18/7/2024).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang: Ông Bùi Minh Tâm - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn T đang chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, kể từ ngày 03/02/2024 đến ngày 03/02/2025 (quyết định số: 02/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã H, huyện G). Trong thời gian chấp hành quyết định nêu trên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng ngày 24/6/2024), kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy. Do đó, Ủy ban nhân dân xã H, huyện G lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 03/7/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G ban hành văn bản số: 42/ĐN-LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xem xét, áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị tại phiên họp: Nguyễn Văn T là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện và kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy . Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, thời gian là 12 tháng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Xét thấy, Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng ma túy trái phép, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G.
Tại phiên họp, Nguyễn Văn T thừa nhận ngày 24/6/2024 có sử dụng trái phép chất ma túy, việc sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện là vi phạm pháp luật, đồng ý cai nghiện bắt buộc, đề nghị Tòa án xem xét về điều kiện hoàn cảnh gia đình để áp dụng mức thấp nhất theo quy định của pháp luật
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T đã thực hiện đúng theo quy định tại điểm a - d khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và hồ sơ đề nghị có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020. Do đó, hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và kết quả xem xét tại phiên họp có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T đang chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn là 01 năm, kể từ ngày 03/02/2024 đến ngày 03/02/2025 (theo quyết định số: 02/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã H, huyện G), trong thời gian chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng ngày 24/6/2024) và kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy, điều này cho thấy Nguyễn Văn T không đủ khả năng để tự cai nghiện mặc dù đã được tổ chức, cá nhân có liên quan giúp đỡ, quản lý và giáo dục trong thời gian chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy.
Nguyễn Văn T là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý và nguy hiểm cho bản thân, cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến phát sinh tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng; quá trình làm việc (theo các tờ tường trình, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính) và tại phiên họp đã tự nguyện khai báo thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên có căn cứ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp, Nguyễn Văn T nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và đồng ý cai nghiện bắt buộc.
Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G đưa Nguyễn Văn T vào sở sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và đúng đối tượng theo khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên chấp nhận.
Hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp nên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, tạo điều kiện để Nguyễn Văn T cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng là cần thiết. Đồng thời, cũng nhằm răn đe và phòng ngừa chung những hành vi vi phạm trong xã hội, vì hiện nay tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng về số lượng, có tính chất ngày càng phức tạp và đối tượng sử dụng đa số là những thanh thiếu niên tuổi đời còn rất trẻ.
Sau khi xem xét về tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy, mức đề nghị của đại diện Cơ quan đề nghị áp dụng đối với Nguyễn Văn T là tương xứng với hành vi vi phạm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.
Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a - d khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 104 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Khoản 1 Điều 24, Điều 31, 32 và Điều 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 26/6/2024).
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Nguyễn Văn T) có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Kiên Giang và Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an huyện Giồng Riềng; - Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Giồng Riềng; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Cơ sở Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang; - UBND xã Hòa Lợi; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Danh Thanh Phát |