vanban.org

Quyết định 489/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị S: Tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của ông Bùi Văn X phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng, bà Tạ Thị S phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng bà S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019173 ngày 03/01/2023 tại Chi cục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị S: Tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 489/2023/QĐST - DS
Ngày: 31/03/2023
V/v: Tuyên bố một người
mất năng lực hành vi dân sự

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN S

Về việc: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân S

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân S gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Thảo Trân – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Hà Thị Thúy Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 0052/2023/TLST- VDS ngày 05 tháng 01 năm 2023 về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, theo Quyết định mở phiên họp số 64/2023/QĐST – DS ngày 10 tháng 03 năm 2023;

Người yêu cầu: Bà Tạ Thị S, sinh năm 1972

Địa chỉ: 480/65/67 Bình Q, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Tạ T S, sinh năm 1968

Địa chỉ: 67/20 Lê Thị H, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh.

- Bà Lê Thanh T, sinh năm 1984

Địa chỉ:8/11 Linh Đ, khu phố 8, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1979

Địa chỉ: 39/5/36 đường 22, khu phố 7, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN S:

Người yêu cầu bà Tạ Thị S trình bày: Cha mẹ bà là ông Bùi Văn X và bà Tạ Thị Ú (chết năm 2022) là vợ chồng, chung sống với nhau có hai người con chung là bà Tạ Thị S và bà Tạ T S. Ngoài ra, ông X còn chung sống với bà Nguyễn Thị H (đã chết, không nhớ rõ năm) có một người con chung là ông Nguyễn Văn B và chung sống với bà Nguyễn Thị N (chết 1984) có một người con là bà Lê Thanh T. Ông Bùi Văn X hiện tuổi già không còn minh mẫn, lúc nhớ lúc quên, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải có người hỗ trợ. Do đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự để nhằm bổ túc hồ sơ giấy tờ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ T S, bà Lê Thanh T và ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông Bùi Văn X và bà Tạ Thị Út (chết năm 2022) là vợ chồng. Ông X và bà Út chung sống với nhau hai người con chung bà Tạ Thị S và bà Tạ T S. Ngoài ra, ông X còn chung sống với bà Nguyễn Thị Hai (đã chết, không nhớ rõ năm) có một con chung là ông Nguyễn Văn B và chung sống với bà Nguyễn Thị Nga (chết 1984) có một con chung là bà Lê Thanh T. Ông Bùi Văn X hiện tuổi già không còn minh mẫn, lúc nhớ lúc quên, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải có người hỗ trợ. Do đó, ông bà thống nhất việc bà S yêu cầu Tòa tuyên bố ông X là người mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thẩm quyền: Bà Tạ Thị S có đơn yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự. Đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân S năm 2015. Do ông X hiện đang cư trú tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tư cách tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt do bận công việc. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự nêu trên.

Về nội dung: Bà Tạ Thị S có đơn yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là cha ruột mất năng lực hành vi dân sự do ông X không thể nhận thức, làm chủ được hành vi dân sự.

Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh cùng lời khai của các đương sự thì bà S và ông X có mối quan hệ là cha con với nhau. Do đó, có cơ sở xác định bà S là người có quyền, lợi ích liên quan, được quyền yêu cầu Tòa án tuyên một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông X theo quy định Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 22 Bộ luật Dân S năm 2015.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 637/KLGĐ ngày 10/02/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận đối với ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Về y học: Đương sự bị sa sút tâm thần tuổi già (03-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Như vậy, có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định ông Bùi Văn X mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Tạ Thị S đối với ông Bùi Văn X là có căn cứ chấp nhận cũng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên họp.

Về lệ phí giải quyết việc dân S: Bà Tạ Thị S phải chịu theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 48, Điều 67, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 và Điều 379 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị S: Tuyên bố ông Bùi Văn X, sinh năm 1943, địa chỉ: 480/56/69 Bình Quới, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của ông Bùi Văn X phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng, bà Tạ Thị S phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng bà S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019173 ngày 03/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ