vanban.org

Quyết định 48/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 01/07/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn N và chị Li Y.

Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Hoàng Văn N về việc chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do anh N đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2021/0000096 ngày 10/5/2022. Anh N đã nộp đủ. Quyết định có hiệu lực pháp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Văn N và Li Y"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn N và chị Li Y.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2022/QĐST-HNGĐHải Dương, ngày 01 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hải Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 127/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định mở phiên họp số 143/2022/QĐMPH-ST ngày 16 tháng 6 năm 2022:

Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

- Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

- Chị Li Y, sinh năm 1985.

Địa chỉ hiện tại: Số 493 đường Phục Hưng 1, xóm 019, phường Đại Hồ, khu Quy Sơn, thành phố Đào Viên, Đài Loan.

Người đại diện theo ủy quyền giao nhận tài liệu của chị Li Y: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1989, địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương

Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Li Y được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn ngày 27/3/2015 tại Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian, chị Li Y trở về nước vì lý do công việc. Tuy nhiên, chị Li Y vẫn thi thoảng trở về Việt Nam thăm anh N. Sau đó, anh N đã 02 lần phỏng vấn để làm thủ tục sang Đài Loan đoàn tụ với chị Li Y. Tuy nhiên cả hai lần phỏng vấn đều không được nên vợ chồng không thể đoàn tụ. Do khoảng cách địa lý và vợ chồng anh N chỉ có thể liên lạc qua điện thoại, anh N không thể sang Đài Loan và chị Li Y cũng không thể về Việt Nam vì lý do Covid-19 dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, thường xuyên xảy ra cãi nhau, không thể gần gũi, chia sẻ. Vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

- Về quan hệ con chung, tài sản chung: Anh N và chị Li Y cùng xác định không có con chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí: Anh N tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ sự thỏa thuận của các bên đương sự, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn N và chị Li Y. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh N chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng: Anh N và chị Li Y yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Hoàng Văn N hiện đang sinh sống ở xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, Việt Nam; chị Li Y hiện đang sinh sống ở Đài Loan nên căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Các văn bản chị Li Y gửi về đều đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và có bản dịch công chứng nên được công nhận là hợp pháp.

Chị Li Y hiện nay sinh sống ở Đài Loan không có điều kiện về Việt Nam nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Hoàng Văn N giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án. Anh N đồng ý nhận ủy quyền của chị Li Y.

Theo Công văn số 11183/QLXNC-P4 của Cục quản lý xuất nhập cảnh ngày 02/6/2022, lần cuối chị Li Y xuất cảnh lần cuối vào ngày 02/3/2020. Từ đó đến nay chị Li Y chưa nhập cảnh lần nào.

Tại phiên họp anh N và chị Li Y vắng mặt nhưng đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên TAND tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Li Y được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn ngày 27/3/2015 tại Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian, chị Li Y trở về nước vì lý do công việc. Tuy nhiên, chị Li Y vẫn thi thoảng trở về Việt Nam thăm anh N. Sau đó, anh N đã 02 lần phỏng vấn để làm thủ tục sang Đài Loan đoàn tụ với vợ anh N là chị Li Y. Tuy nhiên cả hai lần phỏng vấn đều không được nên vợ chồng không thể đoàn tụ. Do khoảng cách địa lý và vợ chồng anh N chỉ có thể liên lạc qua điện thoại, anh N không thể sang Đài Loan và chị Li Y cũng không thể về Việt Nam vì lý do Covid-19 dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, thường xuyên xảy ra cãi nhau, không thể gần gũi, chia sẻ. Vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Anh N và chị Li Y đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy tình trạng vợ chồng giữa anh N và chị Li Y đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh chị là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Anh N và chị Li Y không có con chung nên không yêu cầu nên Tòa án không xét.

Về tài sản chung: Anh N và chị Li Y cùng xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Anh N tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 371, khoản 2 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Văn N và chị Li Y.

2. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Hoàng Văn N về việc chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do anh N đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2021/0000096 ngày 10/5/2022. Anh N đã nộp đủ.

3. Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/7/2022./.

Cỡ chữ