vanban.org

Quyết định 48/2020/QĐST-DS — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/07/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 32/2019/TLST-DS ngày 22/3/2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy giao dịch dân sự trái pháp luật, hủy quyết định hành chính và phân chia tài sản chung vợ chồng” giữa:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Hồng T, sinh năm 1961; Trú tại: Phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đoàn Thị Hồng T: Luật sư Ngô Đức T, Công ty TNHHMTV Á. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Tranh chấp dân sự giữa bà T ông S"
  • Tòa quyết gì? I. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 32/2019/TLST-DS ngày 22/3/2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy giao dịch dân sự trái pháp luật, hủy quyết định hành chính và phân chia tài sản chung vợ chồng” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự trả lại bà Đoàn Thị Hồng T
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2020/QĐST-DSLong Biên, ngày 15 tháng 7 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 217, 218, khoản 1 Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 32/2019/TLST-DS ngày 22/3/2019;

Xét thấy ngày 15/7/2020 nguyên đơn trong vụ án là bà Đoàn Thị Hồng T có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và việc rút đơn khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.

QUYẾT ĐỊNH

I. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 32/2019/TLST-DS ngày 22/3/2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy giao dịch dân sự trái pháp luật, hủy quyết định hành chính và phân chia tài sản chung vợ chồng” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Hồng T, sinh năm 1961; Trú tại: Phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đoàn Thị Hồng T: Luật sư Ngô Đức T, Công ty TNHHMTV Á.

- Bị đơn: Ông Trần Xuân S, sinh năm 1957; Trú tại: Phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Xuân S: Ông Ngô Anh T, sinh năm 1966 và ông Lê Văn K, sinh năm 1958; Địa chỉ: Phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ UBND quận Long Biên; Trụ sở: Số 1 Vạn Hạnh, phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội

+ Bà Lê Thị Thanh H (vợ ông S)

+ Anh Trần Lê L (con đẻ ông S)

+ Chị Trần Thị Ngọc T (vợ anh L)

Đều trú tại: Phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Thanh H, anh Trần Lê L, chị Trần Thị Ngọc T: Ông Lê Văn K, sinh năm 1958; Địa chỉ: Phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội.

+ Văn phòng công chứng L B; Trụ sở: Phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

II. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

1. Khi có Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Về tiền tạm ứng án phí DSST: Căn cứ khoản 3 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự trả lại bà Đoàn Thị Hồng T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng đã nộp theo BL số 9938 ngày 30/12/2015 và số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm là 200.000 đồng đã nộp theo BL số 9163 ngày 24/11/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, Hà Nội.

III. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ