- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T.
- Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 48 /2018/QĐ - TA | Phú Mỹ, ngày 19 tháng 12 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán
: Ông Cao Xuân Long – Chủ tọa phiên họp
2. Thư ký phiên họp : Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án.
Ngày 19 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành mở phiên họp công khai hồ sơ thụ lý số 48/2018/TB-TLHS ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 48/2018/QĐ-TA ngày 06/12/2018 và Quyết định mở lại phiên họp số 01/2018/QĐ-TA ngày 12/12/2018 đối với:
Họ và tên người bị đề nghị: Phạm T, tên gọi khác: không, sinh năm 1979; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; HKTT: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; cha Phạm Trọng T và mẹ Nguyễn Thị L; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Người bị đề nghị Phạm T (vắng mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Minh Trang – Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Ông Đặng Quang Nam – Kiểm sát viên.
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; là mẹ đẻ của đối tượng Phạm T; trú tại: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NHẬN THẤY:
Đối tượng Phạm T bị Phòng lao động thương binh thị xã Phú Mỹ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với hành vi như sau:
Ngày 01 tháng 11 năm 2018, Công an thị xã Phú Mỹ nhận được Đơn xin cứu giúp của bà Nguyễn Thị L đối với đối tượng Phạm T. Ngày 05/11/2018 Công an xã X lập biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm T, Trạm y tế xã X có phiếu trả lời kết quả xác định Phạm T nghiện ma túy. Công an thị xã Phú Mỹ có văn bản số 02/ĐN – KTMT ngày 21 tháng 11 năm 2018 về việc đề nghị thẩm định hồ sơ đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào cơ sở chữa bệnh đối với đối tượng Phạm T.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018 Phòng tư pháp thị xã Phú Mỹ có Thông báo số 52/TB – TP để Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị án dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và Điều trị nghiện ma túy, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với đối tượng Phạm T.
Ngày 26/11/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ có văn bản số 250/LĐ-TB&XH về việc đề nghị Tòa án xem xét quyết định đưa đối tượng T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
1/ Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh Xã hội thị xã Phú Mỹ:
Ngày 05/11/2018 Công an xã X lập biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm T, Trạm y tế xã X có phiếu trả lời kết quả xác định Phạm T nghiện ma túy. T là đối tượng nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nghiện ma túy mà vẫn còn tái nghiện. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng T, với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
2/ Ý kiến của bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của đối tượng T): Phạm T là con trai của bà L, sử dụng ma túy từ năm 2005; gia đình cũng đã dùng mọi biện pháp để hỗ trợ cho T cai nghiện tại gia đình nhưng không có kết quả. Vào năm 2006, 2007, T cũng đã bị đưa vào cai nghiện và chữa trị tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, lao động. Sau khi ra khỏi Trung tâm thì vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, trộm cắp nhiều tài sản trong gia đình và người thân; do đó, đồng ý với đề nghị của Phòng Lao động và đề nghị thời hạn áp dụng mức cao nhất đối với T.
3/ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp, Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014. Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phạm T theo quy định của pháp luật, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về thời hiệu và thẩm quyền:
Người bị đề nghị Phạm T có hành vi sử dụng ma túy bị Công an xã X, thị xã Phú Mỹ phát hiện và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính ngày 05/11/2018. Ngày 26/11/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ có văn bản đề nghị Tòa án đưa đối tượng T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là nằm trong thời hiệu, hồ sơ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3, Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013.
Về trình tự thủ tục lập hồ sơ:
Người bị đề nghị Phạm T có hành vi sử dụng ma túy bị Công an xã X, thị xã Phú Mỹ phát hiện. Ngày 05/11/2018, Trạm y tế xã X có tiến hành xét nghiện nước tiểu đã xác định Phạm T nghiện ma túy và T dương tính với ma túy. Trên cơ sở đề nghị và hồ sơ của Công an xã X; Trên cơ sở đề nghị của Công an thị xã Phú Mỹ là văn bản số 02/ĐN – KTMT ngày 21 tháng 11 năm 2018 về việc đề nghị thẩm định hồ sơ đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào cơ sở chữa bệnh đối với đối tượng Phạm T. Ngày 23 tháng 11 năm 2018 Phòng tư pháp thị xã Phú Mỹ có Thông báo số 52/TB – TP để Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị án dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và Điều trị nghiện ma túy, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với đối tượng Phạm T chuyển cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ, với nội dung hồ sơ Phạm T do cơ quan Công an xã X, thị xã Phú Mỹ xác lập đảm bảo về tính pháp lý. Ngày 26/11/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ có văn bản số 250/LĐ-TB&XH về việc đề nghị Tòa án đưa đối tượng T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét việc cơ quan hữu quan tiến hành thủ tục lập hồ sơ đưa người bị đề nghị Phạm T đi cai nghiện bắt buộc nêu trên là thực hiện đầy đủ, đúng qui trình theo các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013.
Về đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ đối với Phạm T:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của mẹ đẻ của đối tượng T, xét thấy: Người bị đề nghị Phạm T sinh năm 1979, đến nay đã trên 18 tuổi, là đối tượng nghiện ma túy. Theo xác minh của Công an xã X, thị xã Phú Mỹ thì Phạm T có nơi cư trú ổn định tại xã X, thị xã Z. Vào năm 2006, Chủ tịch UBND thị xã Bà Rịa đã ban hành Quyết định số 43/QĐ-UB ngày 06/01/2006 đưa T vào cai nghiện và chữa trị tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội.
Xét thấy, đối tượng T thuộc trường hợp đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ và Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đưa người bị đề nghị Phạm T đi cai nghiện bắt buộc là có cơ sở. Đối tượng T đã sử dụng ma túy từ năm 2005, sau khi ra khỏi Trung tâm cai nghiện không từ bỏ ma túy mà còn tiếp tục sử dụng ma túy, do vậy, cần áp dụng thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là 20 (Hai mươi) tháng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 95, 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh 09/2014/UTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội; Điều 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày đưa đối tượng Phạm T vào Cơ sở cai nghiện.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Phú Mỹ, Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Phòng LĐ-TB-XH thị xã Phú Mỹ; - Cơ sở Tư vấn & Điều trị nghiện ma túy tỉnh BR-VT; - Công an thị xã Phú Mỹ(để theo dõi); - Người bị đề nghị Phạm T; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký tên và đóng dấu) Cao Xuân Long |