vanban.org

Quyết định 470/2020/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 28/08/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu Th.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. 2/ Về án phí: Ông Lê Hữu Th được miễn án phí hành chính phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Hữu Th kiện UBND huyện AP"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu Th.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 149 Bộ luật Dân sự; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 470/2020/QĐ-PTTP. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:

Bà Phạm Thị Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Nguyễn Đắc Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 01 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ vào điểm g khoản 1, khoản 2 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 và khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015 quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong vụ án hành chính về việc yêu cầu hủy Quyết định số 195/QĐ.UB ngày 11/9/1992 của Ủy ban nhân dân huyện AP giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Lê Hữu Th, sinh năm 1955.

Địa chỉ: ấp AT, thị trấn AP, huyện AP, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Trần Tiến V, sinh năm 1972; Cư trú: Số 259/1C TND, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang. Theo giấy ủy quyền ngày 14/01/2019.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện AP – tỉnh An Giang.

Địa chỉ: thị trấn AP, huyện AP, tỉnh An Giang.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 14/02/2019 người khởi kiện Lê Hữu Th đề nghị hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp trình bày quan điểm giải quyết vụ việc: Yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng phúc thẩm giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Ông Lê Hữu Th có đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 11 năm 2018 về việc yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang hủy Quyết định 195/QĐ.UB ngày 11/9/1992 “V/v giải tỏa căn nhà ông Lê Hữu Th, ngụ HTQ4, TT AP, nằm trong khu vực xây dựng nhà nước” của Ủy ban nhân dân huyện AP.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Thông báo số 18/2019/TB-TA ngày 11/01/2019 yêu cầu ông Lê Hữu Th trình bày về việc khởi kiện đã hết thời hiệu. Ngày 21/01/2019, ông Lê Hữu Th có đơn trình bày với nội dung:

“Việc Nhà nước thu hồi phần đất của ông để xây dựng cơ quan Nhà nước ông đã đồng ý và chấp hành đúng theo các quyết định của cơ quan Nhà nước nhưng từ khi Nhà nước thu hồi đất của ông đến nay đã không sử dụng vào bất cứ mục đích hay chủ trương của Nhà nước, phần đất hiện nay đang bỏ hoang.

Việc Nhà nước giao lại đất cho ông sử dụng thì hiệu quả hơn là bỏ hoang;

Ủy ban nhân dân huyện AP có các văn bản và quyết định không cấp cho ông theo thời gian và theo quy định của pháp luật để ông biết và thực hiện các quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo thời hạn luật định;

Nhiều lần ông khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện AP nhưng Ủy ban nhân dân huyện AP không chấp nhận yêu cầu của ông. Đến ngày 14/9/2018, Ủy ban nhân dân huyện AP ban hành Công văn số 1155/UBND-NC không chấp nhận đơn khiếu nại của ông.”

Ngày 18/01/2019, Ủy ban nhân dân huyện AP có Văn bản số 70/UBND-NC yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 46/2018/TLST-HC ngày 25/12/2018.

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 1 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính. Mặc dù ông Th có cung cấp Công văn số 1155/UBND-NC ngày 14/9/2019 “V/v trả lời đơn của ông Lê Hữu Th” của UBND huyện AP nhưng đây không phải là Quyết định giải quyết khiếu nại đối với Quyết định số 195/QĐ.UB ngày 11 tháng 9 năm 1992. Do đó, ngày 09/11/2018, ông Lê Hữu Th mới khởi kiện Quyết định số 195/QĐ.UB ngày 11 tháng 9 năm 1992 của Ủy ban nhân dân huyện AP về việc giải tỏa căn nhà của ông là đã hết thời hiệu khởi kiện.

Các lý do mà ông Lê Hữu Th trình bày không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác là cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại khoản 13 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính nên không có cơ sở xem xét.

Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện AP có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang căn cứ điểm g khoản 1, khoản 2 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 và khoản 2 Điều 149 của Bộ luật dân sự 2015 đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật. Do vậy, kháng cáo của ông Lê Hữu Th không có cơ sở chấp nhận.

Ông Lê Hữu Th được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 243 Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu Th.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2019/QĐST-HC ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

2/ Về án phí: Ông Lê Hữu Th được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

3/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ