vanban.org

Quyết định 47/2023/QĐ-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn đề nghị xem xét lại Quyết định Mở thủ tục phá sản của Công ty cổ phần Đ.

Giữ nguyên Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đối với Công ty cổ phần Đ. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty cổ phần Đ đề nghị xem xét lại Quyết định Mở thủ tục phá sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn đề nghị xem xét lại Quyết định Mở thủ tục phá sản của Công ty cổ phần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 44 Luật phá sản; Điều 13 Thông tư số 01/2015/TT-CA Quy định về quy chế làm việc của c…; Điều 14 Thông tư số 01/2015/TT-CA Quy định về quy chế làm việc của c…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 47/2023/QĐ-PTTP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT ĐỀ NGHỊ XEM XÉT LẠI

QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Tổ Thẩm phán gồm có:

Tổ trưởng Tổ Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ;

Thành viên Tổ Thẩm phán: Ông Trần Văn Mười;

Ông Nguyễn Văn Khương.

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Trung – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã căn cứ vào Điều 9 và Điều 42 của Luật Phá sản và quyết định mở thủ tục phá sản đối với Công ty cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ). Ngày 23/02/2023, Công ty Đ có đơn đề nghị xem xét lại Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo hướng hủy Quyết định trên. Tại phiên họp phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần Đ, giữ nguyên Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

XÉT THẤY:

Diễn biến vụ việc:

Ngày 20/10/2020, Công ty Cổ phần C (sau đây gọi tắt là Công ty C) đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Công ty Đ trên cơ sở cho rằng Công ty Đ mất khả năng thanh toán đối với khoản nợ phát sinh từ hợp đồng nguyên tắc số 01.01.2019/HĐMB/NL-KHANGTHONG (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 01).

Đến ngày 09/3/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định Không mở thủ tục phá sản số 01/2022/QĐ-KMTTPS. Không đồng ý với Quyết định trên, Công ty C làm đơn đề nghị xem xét lại và được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận, tuyên hủy Quyết định Không mở thủ tục phá sản số 01/2022/QĐ-KMTTPS, xác định Công ty Đ mất khả năng thanh toán và giao hồ sơ lại cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét ra quyết định mở thủ tục phá sản bằng Quyết định Giải quyết đề nghị xem xét lại Quyết định không mở thủ tục phá sản số 41/2022/QĐ-PT ngày 21 tháng 7 năm 2022.

Trên cơ sở đó, ngày 16/02/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã ban hành Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS đối với Công ty Đ. Đến ngày 23/02/2023, Công ty Đ đã làm đơn đề nghị xem xét lại Quyết định mở thủ tục phá sản nói trên.

Về nội dung:

Tình tiết quan trọng để xem xét mở hay không mở thủ tục phá sản đối với Công ty Đ là việc công ty này có thanh toán khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng số 01 đã giao kết với Công ty C không. Theo đó, phía Công ty C cho rằng tại các biên bản đối chiếu khoản nợ hoặc xác nhận công nợ vào các ngày 10/6/2019, 09/7/2019, 24/9/2019 và 15/11/2019 thì phía Công ty Đ đều thừa nhận khoản nợ nói trên và trên thực tế đã không thanh toán từ ngày 15/11/2019. Phía Công ty Đ thì cho rằng biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/11/2019 chỉ có kế toán hai bên ký xác nhận, không có chữ ký của đại diện hợp pháp các bên nên không thể dùng làm căn cứ yêu cầu mở thủ tục phá sản; mặt khác Công ty Đ không thanh toán khoản tiền liên quan đến Hợp đồng số 01 là do hai bên còn tranh chấp về việc trả lại hàng hóa, đến nay chưa giải quyết xong nên không được xem là mất khả năng thanh toán.

Tổ Thẩm phán xét thấy: Hợp đồng số 01 đã được các bên giao kết và thực hiện, tuy nhiên quá trình thực hiện lại xảy ra sự không thống nhất liên quan đến chất lượng hàng hóa. Sau đó qua quá trình làm việc, các bên đã lập nhiều biên bản xác định về số tiền mà phía Công ty Đ phải trả cho Công ty C. Trong đó có các biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ vào các ngày 10/6/2019, 09/7/2019, 24/9/2019 được Công ty Đ xác nhận là đúng sự thật. Đến ngày 15/11/2019, các bên lập biên bản đối chiếu công nợ chỉ có chữ ký của kế toán các bên, nhưng biên bản này bản chất chỉ là một văn bản kế thừa từ những biên bản trước đó, việc Công ty Đ có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty C là sự thật khách quan. Theo khoản 1, khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản nănm 2014, có cơ sở xác định Công ty Đ đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày hết hạn thanh toán. Phía Công ty Đ cho rằng do có tranh chấp về Hợp đồng số 01 nên không thanh toán cho Công ty C, từ đó yêu cầu hủy Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 là không có căn cứ do đây không phải trường hợp không mở thủ tục phá sản theo quy định.

Bên cạnh đó, tại Quyết định Giải quyết đề nghị xem xét lại Quyết định không mở thủ tục phá sản số 41/2022/QĐ-PT ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh giá về các chứng cứ này theo đúng quy định. Khoản 8 Điều 44 Luật Phá sản cũng nêu rõ, trường hợp đương sự có đề nghị xem xét lại quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản và được Tổ Thẩm phán xem xét giải quyết thì: “Quyết định của Tổ Thẩm phán là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành”. Trong vụ việc này, trước đó Công ty C đã làm đơn đề nghị xem xét lại Quyết định Không mở thủ tục phá sản số 01/2022/QĐ-KMTTPS ngày 09 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, và được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận, tuyên hủy Quyết định Không mở thủ tục phá sản số 01/2022/QĐ-KMTTPS, xác định Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày hết hạn thanh toán và mất khả năng thanh toán, giao hồ sơ lại cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét ra quyết định mở thủ tục phá sản bằng Quyết định số 41/2022/QĐ-PT nói trên. Do đó đề nghị xem xét lại Quyết định mở thủ tục phá sản của Công ty Đ là không có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp, giữ nguyên Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Căn cứ vào điểm a khoản 7, khoản 9 Điều 44 của Luật phá sản; Các Điều 13, 14, 15 và 16 Thông tư số 01/2015/TT-CA ngày 08/10/2015 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về Quy chế làm việc của các Tổ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận đơn đề nghị xem xét lại Quyết định Mở thủ tục phá sản của Công ty cổ phần Đ.

2. Giữ nguyên Quyết định Mở thủ tục phá sản số 01/2023/QĐ-MTTPS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đối với Công ty cổ phần Đ.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định./.

Cỡ chữ