vanban.org

Quyết định 464/2022/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/08/2022 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST-KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng TMCP Đ phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 464/2022/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Bích Thảo.

Các thẩm phán:

Ông Lê Công Toại

Bà Lưu Thị Đoan Trang.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Võ Thị Thu Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST-KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; Điều 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự để Đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2013/TLST-KDTM ngày 09/01/2013 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; Trụ sở chính: Tháp BIDV số 194 Trần Quang K, Phường T, quận H, Thành phố H;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Đức H – Giám đốc chi nhánh; Địa chỉ liên lạc: Tầng 1 số 70 đường G, Phường A, Quận B, Thành phố H; Là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ (Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021).

Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Du lịch H; Địa chỉ: 15 Bis Nguyễn Ngọc C, Phường B, Quận C, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1957; Địa chỉ đăng ký thường trú: 15 Bis N, Phường A, Quận B, Thành phố H; Địa chỉ hiện nay: Đang chấp hành án tại Trại giam X – Cục C10 – Bộ Công An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phương X, sinh năm: 1940; Bà Huỳnh Thị A, sinh năm: 1941; Cùng địa chỉ: 50/9C P, Phường A, Quận B, Thành phố H; Địa chỉ liên lạc: 325/11/55 P, Phường A, Quận B, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phương Bửu L, sinh năm: 1961; Địa chỉ: 50/9C P, Phường A, Quận B, Thành phố H; Địa chỉ liên lạc: 325/11/55 P, Phường A, Quận B, Thành phố H; Là người đại diện theo ủy quyền của ông Phương X và Huỳnh Thị A (Hợp đồng uỷ quyền số công chứng: 00678, quyển số: 01-TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Phòng Công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/01/2018). Tại đơn kháng cáo ngày 11/5/2022 (Người ký đơn kháng cáo: ông Lê Đức H, chức danh: Giám đốc, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ), với lý do: không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST-KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, đề nghị cấp phúc thẩm tuyên buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Du lịch H (từ đây viết Công ty H) thanh toán số nợ còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Đ (từ đây viết Ngân hàng B) tạm tính đến 03/5/2022 là 98.494.722.007 đồng trong đó: nợ gốc: 28.133.224.357 đồng, nợ lãi: 46.902.803.989 đồng, lãi phạt: 23.458.693.661 đồng; Theo Hợp đồng tín dụng số 01/07/HĐ, số đăng ký tại NH: 03/2041782 ngày 25/12/2007. Trường hợp Công ty H không thanh toán/ không thanh toán đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tọa lạc tại 50/9C (số mới 325/11/55) P, Phường A, Quận B, Thành phố H; Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10110/2004 do Ủy ban nhân dân Quận 8 cấp ngày 15/11/2004; Và dự án chung cư Hoà Lục tại Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST- KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST- KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh được Hội đồng xét xử tuyên ngày 05/5/2022. Ngày 11/5/2022 đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng B kháng cáo là trong hạn luật định nên được xem xét. Về nội dung kháng cáo, Hội đồng phúc thẩm xét thấy: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 298/2014/HSST ngày 31/7/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự phúc thẩm số 809/2014/HSPT ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân tối cao – Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử ông Nguyễn Văn H – người đại diện pháp luật của Công ty H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong bản án phúc thẩm, Tòa án đã buộc ông H bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn tổng số tiền 53.520.610.435 đồng bao gồm nợ gốc 40.339.500.000 đồng, lãi 13.181.110.435 đồng. Xét thấy, số tiền này thực chất là tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 01/07/HĐ, số đăng ký tại NH: 03/2041782 ngày 25/12/2007 mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Như vậy Hợp đồng tín dụng số 01/07/HĐ, số đăng ký tại NH: 03/2041782 ngày 25/12/2007 đã được giải quyết như cấp sơ thẩm nhận định theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự là có cơ sở.

Ngân hàng cho rằng do tài sản thế chấp bị mất (ông Hồng mượn tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của Công ty H tại Ngân hàng B để thế chấp cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam) nên mức mức thiệt hại gây ra là số tiền 53.520.610.435 đồng, Bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét và giải quyết quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng B và Công ty H là không có cơ sở chấp nhận.

Ngày 10/7/2015, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 2262/QĐ-CTHA về việc thi hành án theo Đơn yêu cầu thi hành án của phía nguyên đơn đối với ông H theo các Bản án hình sự nêu trên, đã thi hành án, thu hồi tiền từ việc kê biên tài sản của ông H thanh toán cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 01/07/HĐ ngày 25/12/2007, hiện vẫn đang tiếp tục thi hành án để thu hồi nợ cho hợp đồng nêu trên.

Đối với tài sản 50/9C (số mới 325/11/15) P, Phường A, Quận B, Thành phố H (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 10110/2014 do Ủy ban nhân dân Quận 8 cấp ngày 15/11/2004), trường hợp Công ty H không thực hiện hoặc thực hiện việc trả nợ không đủ thì Ngân hàng B được quyền khởi kiện ông Phương X, bà Huỳnh Thị A với vai trò bảo lãnh.

Do nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh phía ông H hay bị đơn không đủ khả năng hay không thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chưa đủ điều kiện để khởi kiện là đúng quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 192, điểm g Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng B là có căn cứ.

Ngân hàng B phải chịu án phí phúc thẩm, cấn trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.

2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 26/2022/QĐST-KDTM ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ngân hàng TMCP Đ phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0016962 ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng TMCP Đ đã nộp đủ án phí phúc thẩm. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ