- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2023/QĐST-HNGĐ |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 52/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu V, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 19 tháng 7 năm 2023,
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 19 tháng 7 năm 2023 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu V và anh Bùi Văn L.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về con chung: Chị Phạm Thị Thu V và anh Bùi Văn L có 02 (hai) con chung là Bùi Thị Y, sinh ngày 06/7/2005 và Bùi Trung K, sinh ngày 05/7/2013.
Con chung Bùi Thị Y, sinh ngày 06/7/2005 đã trưởng thành và tự lập được nên chị Phạm Thị Thu V và anh Bùi Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao con chung Bùi Trung K, sinh ngày 05/7/2013 (như nguyện vọng của con) cho anh Bùi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi con thành niên, đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình kể từ ngày 19 tháng 7 năm 2023.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho anh Bùi Văn L biết quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người trực tiếp nuôi con nhưng anh L vẫn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, hiện tại chị V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Chị Phạm Thị Thu V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh Bùi Văn L.
Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Thu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Bùi Văn L cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Phạm Thị Thu V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Nếu chị Phạm Thị Thu V lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì anh Bùi Văn L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của chị Phạm Thị Thu V.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định về việc cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Thu V và anh Bùi Văn L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Thu V và anh Bùi Văn L khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Thuận tình ly hôn các đương sự chỉ phải chịu 50% án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng x 50% = 150.000 đồng, trong đó chị V phải chịu 75.000 đồng và anh L phải chịu 75.000 đồng. Chị V tự nguyện nộp toàn bộ tiền án phí là 150.000 đồng cả phần của anh L nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0004037 ngày 31/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hoàn trả lại cho chị V số tiền 150.000 đồng.
Trong trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Gia Lai;
- VKSND huyện Đ;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- UBND xã P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Quang Đức