- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Y/c tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị N:
- Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2020/QĐST-DS | Tân Bình, ngày 06 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bành Kim Phượng
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 509/2019/TLST–DS ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2020/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1960
Địa chỉ: đường C, Phường B, quận A, Tp.HCM. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt)
2. Bà Đặng Thùy Linh Q, sinh năm 1982 (Có đơn xin vắng mặt)
3. Ông Đặng Minh D, sinh năm 1984 (Có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: đường C, Phường B, quận A, Tp.HCM.
4. Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: đường Y, Phường S, quận A, Tp.HCM.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu ngày 23 tháng 10 năm 2019, Đơn thay đổi yêu cầu ngày 18/02/2020 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà Nhung và ông Đặng Thành H (chết năm 1995) có 04 người con: Đặng Thị Mỹ L – sinh năm 1980, Đặng Thùy Linh Q – sinh năm 1982, Đặng Minh D – sinh năm 1984 và Đặng Thị Anh T – sinh năm 1986. Năm 1995, bà N chung sống với ông Nguyễn Đường L1 có 01 con tên Nguyễn Đăng K – sinh năm 1995.
Bà T bị sốt cao dẫn đến thiểu năng trí tuệ từ hồi 4 tháng tuổi, mặc dù bà N đã đưa bà T chữa bệnh rất nhiều nhưng tình hình của bà T vẫn không cải thiện. Bà T bị chậm phát triển, khả năng nhận thức chỉ bằng một đứa trẻ, có thể tự vệ sinh, tự ăn uống được.
Trong một lần gia đình để bà T đi lạc bên ngoài, bà T có thai và sau đó có một đứa con là Đặng Nguyễn Việt H1 – sinh năm 2012, bà T không đăng ký kết hôn với ai và gia đình cũng không biết cha cháu H1 là ai.
Ngày 23/10/2019, bà N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đặng Thị Anh T mất năng lực hành vi dân sự để thuận tiện trong các thủ tục hành chính đối với bà T và cháu H1.
Sau khi có kết luận giám định, ngày 18/02/2020, bà N có đơn thay đổi yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1995 – em trai của bà T là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T.
Trong bản tự khai ngày 27/02/2020, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Mỹ L, bà Đặng Thùy Linh Q, ông Đặng Minh D, ông Nguyễn Đăng K cùng trình bày: Bà L, bà Q, ông D, ông K xác nhận lời trình bày của bà N là đúng. Do ông K chưa lập gia đình, có công việc ổn định tại nhà, bản thân bà L, bà Q, ông D đã lập gia đình riêng nên không có thời gian chăm sóc cho bà T, bà N đã lớn tuổi lại có bệnh nên không tiện đi lại làm các thủ tục. Vì vậy, nay bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T thì bà L, bà Q, ông D, ông K đồng ý.
Tại phiên họp,
Người yêu cầu bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng K trình bày: Ông đồng ý với yêu cầu của bà N. Ông K ở chung nhà với bà N và bà T từ nhỏ, chưa có gia đình nên có thời gian quan tâm chăm sóc bà T.
Bà Đặng Thị Mỹ L, bà Đặng Thùy Linh Q, ông Đặng Minh D có yêu cầu vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định:
Bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu tuyên bố bà Đặng Thị Anh T, sinh năm 1986 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của đương sự yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong vụ án thể hiện bà Nguyễn Thị N và ông Đặng Thành H (chết năm 1995) có 04 người con: Đặng Thị Mỹ L – sinh năm 1980, Đặng Thùy Linh Q – sinh năm 1982, Đặng Minh D – sinh năm 1984, Đặng Thị Anh T – sinh năm 1986. Bà N có 01 người con tên Nguyễn Đăng K – sinh năm 1995.
Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 200/KLGĐ ngày 14/01/2020 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đối với bà Đặng Thị Anh T kết luận: Về y học: Đương sự chậm phát triển tâm thần, mức độ trung bình (F71- ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Do đó, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc chỉ định ông Nguyễn Đăng K là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T:
Cha của bà T đã chết, bà N từ chối làm người giám hộ do lớn tuổi, có bệnh trong người. Bà N đề nghị Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K – em trai của bà T là người giám hộ cho bà T do ông chưa lập gia đình, hiện đang có công việc ổn định tại nhà nên có thời gian chăm sóc cho bà T. Bà L, bà Q, ông D là anh, chị của bà T, đều đã có gia đình riêng và bận công việc nên các đương sự đều thống nhất ông K làm giám hộ. Nhận thấy, bà N, bà L, bà Q, ông D cùng xác định ông K đang sống cùng nhà với bà T và chăm sóc bà T nên ông K có đủ điều kiện làm người giám hộ cho bà T, đồng thời ông K cũng đồng ý làm người giám hộ cho bà T. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 Điều 23, Điều 46, Điều 49, Điều 53, Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp đề nghị chấp nhận yêu cầu của đương sự: Tuyên bố bà Đặng Thị Anh T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định ông Nguyễn Đăng K là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T là phù hợp nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 362, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23, Điều 46, Khoản 1 Điều 48, Điều 49, Điều 54, Điều 57, Điều 58, Điều 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị N:
1. Tuyên bố bà Đặng Thị Anh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: đường C, Phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Chỉ định ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1995; Địa chỉ: đường Y, Phường S, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người giám hộ đối với bà Đặng Thị Anh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: đường C, Phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự; Quản lý tài sản của người được giám hộ; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có các quyền sau đây: Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ; Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Việc thay đổi, chuyển giao giám hộ, chấm dứt việc giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 60, Điều 61, Điều 62, Điều 63 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Nguyễn Thị N chịu, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0039370 ngày 15/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Đăng K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày công bố quyết định. Bà Đặng Thị Mỹ L, bà Đặng Thùy Linh Q, ông Đặng Minh D có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bành Kim Phượng |