- Tranh chấp gì? "yêu cầu hủy QĐ HC"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 11/2019/QĐST –HC ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2019/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Phan Thị Vân Hương.
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Cường;
Ông Nguyễn Huyền Cường. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Ngô Ngọc Hưng, Thư kýTòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2019/QĐST-HC ngày 28 tháng 01 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh H đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Lương Thị A, sinh năm 1969;
Địa chỉ:Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh H.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh H.
- Người có quyền lọi nghĩa vụ liên quan:
1.Ủy ban nhân dân huyện Z, tỉnh H.
2.Sở tài nguyên và môi trường H.
3.Ban quản lý dự án các công trình điện Q.
Tại đơn đề ngày 04 tháng 3 năm 2019, bà Lương Thị A kháng cáo cho rằng ngày 30/12/2016 bà mới được Ủy ban nhân dân tỉnh H cung cấp bản sao Quyếtđịnh số 2330/QĐ- UBND của Chủ tịchỦy ban nhân dân tỉnh H “Về việc thu hồi đất, giao đất cho Ban quản dự án các công trình điện Q xây dựng đường điện 220 KV trên địa bàn huyện Z, tỉnh H” nên bà mới biết được nội dung Quyết định. Do đó, ngày 25/11/2017 bà đã có đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định này, là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hết thời hiệu khởi kiện là không đúng.
XÉT THẤY:
Ngày 20/10/2006, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số: 2330/QĐ-UBND thu hồi đất, giao đất cho Ban quản dự án các công trình điện Q xây dựng đường điện 220 KV,có nội dung: … Thu hồi 12.776,3 m2 đất tại các xã Y, P, thị trấn Z, thuộc huyện Z do các hộ gia đình cá nhân đang quản lý sử dụng và do UBND xã Y và UBND thị trấn Z quản lý (có phụ lục kèm theo) và giao 12.776,3 m2đất thu hồi cho Ban quản lý dự án các công trình điện Q để sử dụng vào mục đích xây chân cột, đường dây 220 KV tuyến H. Giao 620.512,51 m2 đất dọc tuyến đường dây 220 KV tại các xã Y, P, và thị trấn Z cho Ban quản lý dự án các công trình điện Q quản lý làm hành lang an toàn lưới điện (theo quy định tại Nghị định số 106/2005/NĐ-CP của Chính phủ) (…).
Theo quyết định nêu trên thì 620.512,51m2 đất thuộc hành lang an toàn lưới điện, UBND tỉnhchỉ giao cho Ban quản lý dự án để thực hiện quản lý bảođảm an toàn lưới điện theo quy định tại Nghịđịnh số 106/2005/NĐ-CP; không thu hồi đất của các hộ gia đình, các hộ gia đình vẫn được quản lý sử dụng đất và tài sản trên đất nhưng bị hạn chế quyền.
Thực hiện Quyết định nêu trên, từ năm 2007, Đại diện chủ dự án, UBND xã Y, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Z đã lập Bản kê kiểm đếm tài sản, đất, cây trên diện tích đất thuộc hành lang an toàn đường điện đối với hộ bà Lương Thị A. UBND huyện Z đã ban hành Quyết định số 2962/QĐ-UBND ngày 17/8/2007 và Quyết định số 3577/QĐ-UBND ngày 08/6/2009 phê duyệt bồi thường hỗ trợ và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ về tài sản (gồm nhà và công trình trên đất, cây cối) của gia đình bị ảnh hưởng của hành lang đường điện và đã chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho gia đình. Năm 2011, ông Phạm Văn B (chồng bà Lương Thị A) khiếu nại về các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, đã được giải quyết khiếu nại tại Quyết định số 9737/QĐ-UBND ngày 23/11/2011, sau đó gia đình không khiếu nại tiếp và không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
Năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện Z có các Thông báo đến các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án đường điện 220 KV để tuyên truyền bảo vệ hành lang điện và diện tích đất của các hộ dân nằm trong hành lang lưới điện cao áp tại Quyết định số 2330/QĐ-UBND ngày 20/10/2006 theo quy định tại Khoản 3 điều 97 Luật Đất đai năm 2003; điểm b, khoản 4, điều 92 Nghị định số 191/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, phần diện tích đất thuộc hành lang đường điện 220 KV, UBND tỉnh H không thu hồi đất, nên các hộ vẫn sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai, nhưng việc sử dụng phải bảo đảm an toàn đường điện theo quy định của pháp luật. Cụ thể là Thông báosố 395/TB-UBND ngày 12/8/2013 về việc nghiêm cấm tự ý cơi nới các công trình; nghiêm cấm trồng các loại cây phát triển chiều cao vi phạm khoảng cách an toàn trong hành lang bảo vệ an toàn lưới điện theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 17/5/2005 của Chính phủ Thông báo số 418/TB- UBND ngày 20/9/2013 thay thế Thông báosố 395/TB-UBND. Tại Thông báo số 431/TBKL- UBND ngày 16/9/2013 Kết luận của Lãnh đạo UBND huyền Z tại buổi tiếp công dân đột xuất tháng 9/2013.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định tính đến ngày 13/8/2013, bàị A đã biết về Quyết định số 2330/QĐ-UBND ngày 20/10/2006, đến ngày 25/12/2017 mới khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2330/QĐ-UBND ngày 20/10/2006 (đối với diện tích đất của gia đìnhbà bịảnh hưởng bởi hành lang điện), là hết thời hiệu khởi kiện 01 năm theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính và từ đó quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, là đúng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 luật tố tụng hành chính.
Bà Lương Thị A kháng cáo nhưng không đưa ra chứng cứ chứng minh có trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật, nên không có cơ sở chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 11/2019/QĐST –HC ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
2. An phí hành chính phúc thẩm: Bà Lương Thị A phải chịu 300.000 đồng, được trừđi số tiền 300.000 đồngđã nộp tại Biên lai tạm ứng số 0008685 ngày 08/3/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định 08/7/2019.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSNDCC tại Hà Nội; -TAND tỉnh H ; - Cục THADS tỉnh H; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Thị Vân Hương |