vanban.org

Quyết định 456/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 06/12/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1.

TAND tỉnh Gia Lai; VKSND thành phố P; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Xuân T - Quảng Thanh T1"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 456/2017/QĐST-HNGĐP, ngày 06 tháng 12 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 762/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2017, giữa: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1974. Địa chỉ: 10 đường U, phường H, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. 2. Bị đơn: Ông Quảng Thanh T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: 10 đường U, phường H, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 28 tháng 11 năm 2017.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 28 tháng 11 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1 có hai con chung là cháu Quảng Thanh T2, sinh ngày 04-11-1999 và cháu Quảng Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 10-3-2004. Cháu Quảng Thanh T2 đã thành niên và tự lập nên bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1 không yêu cầu giải quyết việc nuôi và cấp dưỡng nuôi cháu sau ly hôn. Tại Đơn xin trình bày ý kiến ngày 27-11-2017, cháu Quảng Nguyễn Thanh T3 có nguyện vọng được ở với bà Nguyễn Thị Xuân T khi cha mẹ ly hôn. Các đương sự thống nhất giao con của họ là cháu Quảng Nguyễn Thanh T3 cho bà Nguyễn Thị Xuân T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Quảng Thanh T1 không yêu cầu Toà án giải quyết các quan hệ này. Về án phí: Tiền án phí dân sự sơ thẩm là 150.000 đồng, bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 75.000 đồng, ông Quảng Thanh T1 phải chịu 75.000 đồng; bà Nguyễn Thị Xuân T tự nguyện nộp thay toàn bộ cho ông Quảng Thanh T1 nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003839 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; bà Nguyễn Thị Xuân T được hoàn trả lại số tiền 150.000 đồng theo biên lai trên. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ