vanban.org

Quyết định 45/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 28/07/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Võ Thành K, sinh năm 1985; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số 1105E/56, khóm S, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Võ Thành K, sinh năm 1985"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 45 /QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Ngọc Thảo.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh

An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số

47/QĐ-TA ngày 23 tháng 8 năm 2020 đối với:

Võ Thành K, sinh năm 1985; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số 152/4 đường Q, khóm S, phường

B, thành phố X, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: tài xế;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không;

Trình độ văn hóa: 9/12;

Tiền án, tiền sự: chưa xác định.

Con ông Võ Thanh H1 và bà Nguyễn Kim H2;

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố K; là đại diện theo ủy quyền.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp:

Ông Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 19/5/2020, Công an phường M, thành phố K tuần tra khu vực

khóm V, phường M thấy Võ Thành K có biểu hiện sử dụng ma túy nên Công an mời về trụ sở làm việc và xét nghiệm ma túy. Kết quả K dương tính với chất Methamphetamin và Morphin. Đồng thời, K cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 19/5/2020. Công an phường M, thành phố K đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với K.

Ngày 19/5/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường M, thành phố K ban

hành Quyết định số 203/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thành K.

Ngày 26/5/2020, Ủy ban nhân dân phường Phường M, thành phố K ban

hành Đề nghị số 12/ĐN-UBND đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thành K nhằm giúp đỡ K có thời gian khắc phục, sửa chữa, cai nghiện và học nghề.

Theo Thông báo số 52/TB-PTP ngày 09/7/2020, Phòng Tư pháp thành

phố K đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hải bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 21/7/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành

văn bản số 42/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thành K với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố K giữ

nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thành K với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.

- Võ Thành K thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ thể

hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Đại diện Viện Kiểm sát thành phố K tham gia phiên họp phát biểu quan

điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

Căn cứ công văn đề nghị số 42 ngày 22/7/2020 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội thành phố K thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 19/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố K thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Võ Thành K (sinh năm: 1985) là người nghiện ma túy trên 18 tuổi,

không có nơi cư trú ổn định, nên đề nghị đưa K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

là đủ điều kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm

2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị của Phòng

Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thành K.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố

K đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

* Về nội dung:

Tại phiên họp, lời khai nhận của Võ Thành K về hành vi sử dụng trái

phép chất ma túy là phù hợp với bản tường trình, biên bản ghi lời khai, kết

quả xét nghiệm và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường M, thành

phố K lập ngày 19/5/2020.

Theo kết quả xác minh tình trạng cư trú của K tại khóm S, phường B,

thành phố X, tỉnh An Giang được biết: Võ Thành K, sinh năm 1985 có đăng

ký hộ khẩu thường trú tại số 1105E/56, khóm S, phường B, thành phố X, tỉnh

An Giang. Bỏ địa phương đi từ tháng 7/2018 cho đến nay.

Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai ngày 19/5/2020, K xác định có

đăng ký hộ khẩu thường trú tại 1105E/56, khóm S, phường B, thành phố X,

tỉnh An Giang. Năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố X áp dụng biện pháp

cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Năm 2017, chấp hành xong thì theo những

người bạn nghiện ma túy đến những nơi như: Tân Châu, Phú Tân, An Phú

khoảng 01 đến 02 tuần thì đi. Do né tránh cơ quan Công an, sợ bị phát hiện sử

dụng trái phép chất ma túy nên không biết rõ địa chỉ.

Tại phiên họp, K xác định nhà cha mẹ tại địa chỉ 1105E/56, khóm S,

phường B, thành phố X, tỉnh An Giang và hiện đang còn sinh sống. Riêng bản

thân làm nghề tài xế tại Tam Nông, Bình Dương và thường xuyên sinh sống

tại đây, nhưng không đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú. Có về nhà

thăm cha mẹ 01 đến 02 ngày rồi đi, không thường xuyên sinh sống tại đây.

Việc K sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường M, thành phố

K phát hiện và K cũng không chứng minh được thường xuyên sinh sống tại

địa chỉ 1105E/56, khóm S, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang. Từ đó, K

được xem là không có nơi cư trú ổn định.

Xét, K đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không

có nơi cư trú ổn định. Đồng thời, K cũng đã nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt

buộc nhưng không sửa chữa mà vẫn tiếp tục vi phạm. Do đó, Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội thành phố K đề nghị đưa K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân: K có nhân thân xấu đã từng vi

phạm pháp luật, bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại phiên họp K thành khẩn khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, nên có xem xét trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với K.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104

và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23 và 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Võ Thành K, sinh năm 1985; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số 1105E/56, khóm S, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 19 tháng 5 năm 2020).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

thành phố K và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Võ Thành K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa

án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến

nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì

phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố

K đưa Võ Thành K vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ