vanban.org

Quyết định 45/2022/QĐCNTTLH — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 4 năm 2022, cụ thể như sau:

Chị Nguyễn Thị Thùy D (đại diện là ông Đồng Quảng T) và anh Nguyễn Văn T thống nhất thỏa thuận: Tặng cho một mảnh đất có diện tích là tích là 8756m2, thửa số 198, tờ bản đồ số 32, tại Làng Rin 1, xã HBông, huyện C, tỉnh G. Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS00879 do Sở tài nguyên môi t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "chia tài sản sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 4 năm 2022, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2022/QĐCNTTLHĐồng Phú, ngày 28 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Điều 59, 60 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Nguyễn Văn T về việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, đã thụ lý số 61/2022/TLST-HGTTA ngày 08/4/2022;

Sau khi nghiên cứu:

-Đơn khởi kiện/Đơn yêu cầu đề ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy D;

-Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 4 năm 2022 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

*Người khởi kiện: Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ 2, ấp Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh B. Đại diện theo ủy quyền là ông Đồng Quảng T, sinh năm 1963, trú tại: Đường Tôn Đức Thắng, khu phố A, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh B, theo văn bản ủy quyền ngày 02/3/2022

*Người bị kiện: Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; Hộ khẩu: Tổ 2, Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh B. Chỗ ở hiện nay: Phòng số 1, nhà trọ Đ, khu công nghiệp B, khu phố K, Tt T, huyện Đ, tỉnh B.

-Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (nếu có).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 4 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 4 năm 2022, cụ thể như sau:

Chị Nguyễn Thị Thùy D (đại diện là ông Đồng Quảng T) và anh Nguyễn Văn T thống nhất thỏa thuận: Tặng cho một mảnh đất có diện tích là tích là 8756m2, thửa số 198, tờ bản đồ số 32, tại Làng Rin 1, xã HBông, huyện C, tỉnh G. Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS00879 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/8/2018 mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thùy D cho con chung là cháu là Nguyễn Phúc K, sinh ngày 10/5/2017 được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt mảnh đất và sở hữu tài sản trên đất (nếu có).

Khi cháu Nguyễn Phúc K trưởng thành đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Thùy D, có trách nhiệm làm (ký) các thủ tục theo quy định của pháp luật để cho cháu K được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với mảnh đất nói trên.

Trường hợp các bên không tự nguyện làm thủ tục sang tên cho cháu K như đã thỏa thuận ở trên thì cháu Nguyễn Phúc K có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định này theo quy định của pháp luật.

Do cháu K chưa đủ 18 tuổi nên tạm giao cho chị D (người giám hộ cho cháu Khang) được thay cháu K quản lý, sử dụng, bảo quản mảnh đất và phát triển tài sản trên đất (nếu có) cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi thì có trách nhiệm bàn giao lại cho cháu K quản lý, sử dụng.

Các vấn đề khác: Các bên thống nhất là không có.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ