vanban.org

Quyết định 45/2020/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần L; địa chỉ: Tòa nhà HM 412, Phường 5, Quận 3, Thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Hải Bằng, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng Thương mại L (Giấy ủy quyền số 207/2020/UQ-TTQL&THN ngày 01 tháng 6 năm 2020). Bị đơn: Bà Phạm Thị K sinh n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2020/QĐST-KDTMThuỷ Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 01 tháng 9 năm 2020 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 83/2020/TLST-KDTM ngày 28 tháng 7 năm 2020.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần L; địa chỉ: Tòa nhà HM 412, Phường 5, Quận 3, Thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Hải Bằng, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng Thương mại L (Giấy ủy quyền số 207/2020/UQ-TTQL&THN ngày 01 tháng 6 năm 2020).

Bị đơn: Bà Phạm Thị K sinh năm 1958 và ông Nguyễn Đức L sinh năm 1958 cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Đức L là bà Phạm Thị K (Giấy ủy quyền ngày 19 tháng 8 năm 2020).

2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L số tiền nợ của hợp đồng tín dụng số 0297/04417/TDTL-CN ngày 25 tháng 7 năm 2017 tính đến ngày 01 tháng 9 năm 2020 là 630.578.980 đồng trong đó số tiền nợ gốc là 492.000.000 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn là 124.032.361 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 13.499.135 đồng, số tiền nợ lãi phạt chậm trả vốn là 1.047.484 đồng.

2.2. Kể từ ngày 02 tháng 9 năm 2020 ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần L với Ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2.3. Phương án trả nợ cụ thể như sau: Bắt đầu từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 11 năm 2020, mỗi tháng ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L số tiền nợ gốc là 5.000.000 đồng vào ngày 10 dương lịch hàng tháng. Chậm nhất đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, Ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K phải trả hết cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L số tiền nợ còn lại (bao gồm số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi trong hạn và số tiền nợ lãi quá hạn) của hợp đồng tín dụng số 0297/04417/TDTL-CN ngày 25 tháng 7 năm 2017 và Giấy nhận nợ đã ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần L với ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K.

2.4. Trường hợp ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K vi phạm bất kỳ kỳ hạn trả nợ nào theo phương án trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần L được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng 132,4 m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 58(2), tờ bản đồ số 02 ở thôn Đông, xã L Động, huyện L, thành phố Hải Phòng; số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H/01542; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 468014 do UBND huyện L cấp ngày 08/10/2009 cho ông Nguyễn Đức L và vợ là Phạm Thị K để thu hồi nợ. Trong trường hợp phải phát mại tài sản đảm bảo thì sau khi phát mại tài sản, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán hết dư nợ thì bà K và ông L vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L.

2.5. Về án phí: Ông Nguyễn Đức L và bà Phạm Thị K nhận nộp cả 14.611.580 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần L số tiền tạm ứng án phí 14.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002175 ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, thành phố Hải Phòng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ