vanban.org

Quyết định 45/2018/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 21/08/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc A về việc tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

Tuyên bố ông Tăng Hà Q, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1981. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc A phải nộp lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà A yêu cầu tuyên bố ông Q là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc A về việc tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2018/QĐST-DS
Ngày: 21/8/2018.
V/v “Yêu cầu tuyên bố
một người là đã chết”

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Trương Thị Thu Thủy.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trường Giang.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2018/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2018 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 06/2018/QĐMPHST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2018.

I/ Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1980.(Có mặt)

Địa chỉ: 317 Hùng Vương, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện: Ông Trần Tuấn L, sinh năm 1975.(Có mặt)

Địa chỉ: 91 Yên Bái, thành phố Đà Nẵng.

Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/01/2018).

II/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1) Ông Tăng Hà Â, sinh năm 1964.(Có mặt)

Địa chỉ: 115 Nguyễn Thái Học, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

2) Ông Tăng Hà Á, sinh năm 1963.(Vắng mặt)

Địa chỉ: 115 Nguyễn Thái Học, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

3) Ông Tăng Hà V, sinh năm 1965.(Vắng mặt)

Địa chỉ: 10/1 Phạm Văn Nghị, thành phố Đà Nẵng.

4) Ông Tăng Hà A, sinh năm 1969.(Có mặt)

Địa chỉ: 115 Nguyễn Thái Học, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

5) Ông Tăng Hà Th, sinh năm 1971.(Có mặt)

Địa chỉ: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

6) Bà Tăng Thị Ngọc B, sinh năm 1960.(Có mặt)

Địa chỉ: 51/5B Phan Chu Trinh, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

7) Chị Tăng Hà Ngọc H, sinh năm 1995.(Vắng mặt)

Địa chỉ: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

8) Bà Cao Lê Ngọc H, sinh năm 1970.(Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 24, thôn Bàu Ốc Hạ, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

9) Cháu Tăng Nguyễn Thiện D, sinh năm 2007.

Địa chỉ: 317 Hùng Vương, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện hợp pháp của cháu D: bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1980; địa chỉ: 317 Hùng Vương, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, là mẹ ruột.(Có mặt)

III/ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Chồng bà Nguyễn Thị Ngọc A là ông Tăng Hà H (sinh năm 1967- chết năm 2009). Ông H để lại khối di sản và đã phát sinh quyền thừa kế của các đồng thừa kế. Tuy nhiên, do cha của ông H là ông Tăng Hà Q, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, đã biệt tích và không có tin tức gì từ năm 1975 cho đến nay, chưa được xác định là đã chết nên làm ảnh hưởng đến việc phân chia thừa kế theo quy định.

Do đó, bà Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An tham gia phiên họp: Tòa án nhân dân thành phố Hội An thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc A, tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Ngọc A có đơn yêu cầu tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết. Đây là việc dân sự: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Tăng Hà Q có nơi cư trú cuối cùng là tại thành phố Hội An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam theo điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào đơn yêu cầu, các bản trình bày có trong hồ sơ và trình bày tại phiên họp của đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu, của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì thấy:

Ông Tăng Hà Q, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam có vợ là bà Nguyễn Thị Qu (sinh năm 1937- chết năm 2013). Ông Q, bà Qu có tất cả 07 người con chung:

1) Bà Tăng Thị Ngọc B.

2) Ông Tăng Hà Á.

3) Ông Tăng Hà Â.

4) Ông Tăng Hà V.

5) Ông Tăng Hà A.

6) Ông Tăng Hà Th.

7) Ông Tăng Hà H (chết năm 2009).

Ông Tăng Hà H đã ly hôn với bà Cao Lê Ngọc H, có 02 con chung là:

1) Chị Tăng Hà Ngọc H.

2) Anh Tăng Hà Minh H (chết ngày 20.5.2018, chưa có vợ con).

Năm 2005, ông Tăng Hà H kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc A (Giấy chứng nhận kết hôn số: 35, quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 20 tháng 6 năm 2005), có 01 con chung là cháu Tăng Nguyễn Thiện D. Ông H chết nên phát sinh quyền thừa kế cho các đồng thừa kế. Tuy nhiên, do ông Tăng Hà Q biệt tích từ năm 1975, gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về việc ông Quang còn sống hay đã chết. Do đó, bà Nguyễn Thị Ngọc A có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

Tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Tăng Thị Ngọc B, ông Tăng Hà Á, ông Tăng Hà Â, ông Tăng Hà V, ông Tăng Hà A, ông Tăng Hà Th, chị Tăng Hà Ngọc H và anh Tăng Hà Minh H đều thống nhất ông Tăng Hà Q đã biệt tích khỏi địa phương từ năm 1975 cho đến nay không ai biết tin tức gì và thống nhất với việc bà Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

Ông Tăng Hà Q sinh sống tại 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam trước khi bỏ đi biệt tích nên nơi cư trú cuối cùng của ông Q được xác định là 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Chính quyền địa phương (Tổ trưởng tổ 12, khối phố An Thắng; cán bộ công an phụ trách khối phố An Thắng, phường Minh An, thành phố Hội An) đều xác định ông Tăng Hà Q không có mặt tại địa phương, không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương từ năm 1975 cho đến nay.

Ngày 02.4.2018, Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số: 01/2018/QĐ-TBTK. Quyết định này đã được đăng trên báo Thanh Niên số 96 ngày 06.4.2018, số 97 ngày 07.4.2018 và số 98 ngày 08.4.2018. Quyết định cũng đã được phát trên Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng vào lúc 6 giờ 30 phút trong 03 ngày liên tiếp 06, 07 và 08.4.2018. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên vẫn không có tin tức gì xác thực về việc ông Tăng Hà Q còn sống.

Từ những nhận định trên, Tòa án nhận thấy có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc Anh về việc tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

Theo trình bày của người yêu cầu và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và qua xác minh tại chính quyền đại phương thì ông Q biệt tích từ năm 1975 nhưng không xác định được ngày tháng cụ thể nên áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định ông Q biệt tích từ ngày 01 tháng 01 năm 1976 nên ngày chết của ông Tăng Hà Q được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1981.

Đối với phần quản lý tài sản của ông Tăng Hà Q, do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về di sản thừa kế của ông Quang thì được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc A phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc A về việc tuyên bố ông Tăng Hà Q là đã chết.

2. Tuyên bố ông Tăng Hà Q, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: 102 Bạch Đằng, phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1981.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc A phải nộp lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009346 ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Bà A đã nộp đủ lệ phí.

4. Các đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 21 tháng 8 năm 2018. Ông Tăng Hà Á, ông Tăng Hà V, bà Cao Lê Ngọc H và chị Tăng Hà Ngọc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ