vanban.org

Quyết định 441/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/11/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị K.

Tuyên bố: Ông Lý Thành N sinh năm 1950, nơi cư trú cuối cùng: 517/133 (số mới 256/30) Nguyễn Tri Phương, Phường 8, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh đã chết ngày 02/01/1985. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của người… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 441/2017/QĐDS-ST
Ngày: 03-11-2017
V/v: “Tuyên bố một người là đã chết”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Hiếu Hạnh – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 158/2017/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 26/2017/QĐPH-ST ngày 26 tháng 10 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị K

Địa chỉ: Đường M, phường N, quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông NLQ1

- Bà NLQ2

Cùng địa chỉ: Đường M, phường N, quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố ông Lý Thành N, sinh năm 1950, nơi cư trú cuối cùng: 517/133 (số mới 256/30) Nguyễn Tri Phương, Phường 8, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Bà Vũ Thị K yêu cầu tuyên bố ông Lý Thành N là đã chết. Ông N có nơi cư trú tại Quận 10, nên yêu cầu của bà K là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ tờ khai gia đình ngày 23/7/1967 của Gia trưởng Lý Văn Bửu; giấy trích lục chứng thư hôn thú của ông Lý Thành N và bà Vũ Thị K được Ủy viên hộ tịch cấp ngày 23/12/1974; nên bà Vũ Thị K có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lý Thành N là đã chết theo quy định tại khoản 1 Điều 391 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ ngày 12/6/2017 Báo Thanh niên, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án và trang web của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng, phát thông báo tìm kiếm thông tin về ông Lý Thành N nhưng cho đến nay đã hơn bốn tháng mà không có tin tức xác thực về ông Lý Thành N.

Căn cứ xác nhận ngày 10/5/2017 của Công an Phường 8, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của người yêu cầu, người có liên quan, Tòa án có cơ sở xác định trước năm 1979, ông Lý Thành N cư trú tại số nhà 517/133 Nguyễn Tri Phương, Phường 8, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lý Thành N đã biệt tích từ năm 1979 cho đến nay đã hơn năm năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống. Do vậy, việc bà Vũ Thị K yêu cầu tuyên bố ông Lý Thành N đã chết là phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận.

Do không xác định được ngày, tháng biết được tin tức cuối cùng của ông Lý Thành N, nên căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự thì thời hạn ông Lý Thành N biệt tích được tính từ ngày 01/01/1980. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự, Tòa án xác định ngày chết của ông Lý Thành N là ngày 02/01/1985.

Bà Vũ Thị K là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, nên bà K có nghĩa vụ chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 143; 144; khoản 1 Điều 149; 391; 392 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 và điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị K.

Tuyên bố: Ông Lý Thành N sinh năm 1950, nơi cư trú cuối cùng: 517/133 (số mới 256/30) Nguyễn Tri Phương, Phường 8, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh đã chết ngày 02/01/1985.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế

Bà Vũ Thị K có nghĩa vụ chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001364 ngày 17/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Vũ Thị K đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

Kề từ ngày Tòa án ra quyết định, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày.

Cỡ chữ