- Tranh chấp gì? "Trần Thị V kiện UBND huyện Đ"
- Tòa quyết gì? 1/Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị V (có bà Bùi Thị D là đại diện theo ủy quyền);
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 145 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ——— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 440/2024/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:
Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Mai Xuân Thành
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 59/2023/QĐST-HC ngày 14 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143, Điều 144 và Điều 145 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong vụ án hành chính về việc “Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Trần Thị V, sinh năm 1931
Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/Ông Thân Văn T và bà Phạm Thị K;
Địa chỉ: Lô A, xã D, huyện C, tỉnh Đăk Lăk
2/Bà Vũ Thị X và ông Mai Văn P;
Ông Vũ Văn T1, bà Vũ Thị X1
Cùng địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 25/12/2023, người khởi kiện bà Trần Thị V đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Quyết định số 59/2023/QĐST-HC ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp trình bày quan điểm giải quyết vụ việc: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện; Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm nêu trên, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
XÉT THẤY:
Bà Trần Thị V khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 635687 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk (nay là huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) cấp ngày 07/8/2001 cho hộ ông Thân Văn T đối với các thửa đất 139, 142 tờ bản đồ số 17 (1996) tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk (nay là thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông). Căn cứ quy định tại Điều 3, Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của bà V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 635687 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk (nay là huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) cấp ngày 07/8/2001 cho hộ ông Thân Văn T là cấp lần đầu, không liên quan đến tranh chấp đất đai và chưa thực hiện việc chuyển quyền hợp pháp theo quy định pháp luật nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành. Xét, nhận định này của Tòa án cấp sơ thẩm là không có căn cứ và không đúng quy định pháp luật, bởi:
- Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành là căn cứ pháp luật để Tòa án xem xét yêu cầu khởi kiện của bà V là có cơ sở được chấp nhận hay không chấp nhận, đây là quy định pháp luật về nội dung không phải là quy định pháp luật tố tụng.
- Mặt khác, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy sang nhượng đất thổ cư; Đơn xin xác nhận ngày 20/3/2000 của bà Trần Thị V, được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận; Biên bản đối thoại ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông thì phần diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 635687 cấp cho hộ ông T ngày 07/8/2001, đã được ông T, bà K chuyển nhượng cho ông Vũ Thượng H (chồng bà Trần Thị V) từ năm 1992. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 106 của Luật đất đai thì trong trường hợp này Uỷ ban nhân dân không thể tự thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp khi chưa có kết luận thanh tra hoặc văn bản có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Uỷ ban nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà V là không đúng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận, nên người có kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 243 Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1/Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị V (có bà Bùi Thị D là đại diện theo ủy quyền);
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 59/2023/QĐST-HC ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông; Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị V không phải chịu.
3/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; - NKK (1); - NBK (1); -NLQ (6); - Lưu (10) 18b (QĐ TTKY). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Duyên |