vanban.org

Quyết định 44/2024/QĐ-TA

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/11/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Lưu Văn Q, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đi chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lưu Văn Q, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Lưu Văn Q, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/2024/QĐ- TAPhú Lương, ngày 08 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Chu Thị Bích Hiền

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 40/2024/QĐ-TA ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Lưu Văn Q, sinh năm 1985; Giới tính: Nam, số căn cước công dân: 019085006506, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng

Nơi thường trú: xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Lưu Văn N và bà: Đoàn Thị N1, có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1985, có 02 con. tiền sự: không.

Tiền án: 01- Tại bản án số 473/2022/HSST ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo thi hành xong hình phạt tù ngày 16/11/2023

(Vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đỗ Thanh B – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương: ông Triệu Đức Hoàng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Lưu Văn Q là người nghiện ma túy từ 2022, loại ma túy thường sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít, ngày 04/10/2024 Trung tâm y tế huyện P đã xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy và có phiếu kết quả xác định Lưu Văn Q có nghiện ma túy, loại Heroine.

Ngày 07/10/2024, Công an xã V lập biên bản về việc Lưu Văn Q nhận được kết quả xác định tình trạng nghiện, cùng ngày Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản tư vấn cai nghiện cho Q, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định sẽ bị xử lý theo quy định. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên Q đã không thực hiện đăng ký cai nghiện theo quy định và cũng không đăng ký cai nghiện tại bất kỳ cơ sở cai nghiện nào.

Ngày 13/10/2024, Q tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy do đó ngày 14/10/2024 UBND xã V đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lưu Văn Q về hành vi vi phạm “Đã hết thời hạn nhưng không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện” theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021

Ngày 15/10/2024 UBND xã V, huyện P Thông báo số 86/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Quỳnh

Ngày 22/10/2024 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Huyện P ban hành văn bản số 725/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q.

Tại phiên họp Đại diện phòng Lao động - thương binh & xã hội huyện P xác định Q là người nghiện ma túy đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q với thời hạn từ 18-24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương phát biểu quan điểm: Về trình tự, thủ tục tiến hành lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định Luật xử lý vi phạm hành chính và các nghị định hướng dẫn. Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc theo đúng thẩm quyền. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q thời hạn 18-24 tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương và của người bị đề nghị tại phiên họp:

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng:

Tại phiên phọp Lưu Văn Q đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên vắng mặt tại phiên họp lần thứ 2 không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt tại phiên họp.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q đảm bảo theo quy định điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hồ sơ đề nghị được thiết lập đảm bảo theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Lưu Văn Q là người nghiện ma túy từ năm 2022, ngày 04/10/2024 qua kiểm tra xác định tình trạng nghiện ma túy, Trung tâm y tế huyện P xác định Lưu Văn Q có nghiện ma túy, loại Heroine và giao cho Lưu Văn Q. Ngày 07/10/2024, UBND xã V đã lập Biên bản tư vấn ấn định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên Q đã không thực hiện đăng ký cai nghiện theo quy định và cũng không đăng ký cai nghiện tại bất kỳ cơ sở cai nghiện nào, ngày 13/10/2024 tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 14/10/2024 UBND xã V đã lập biên bản vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 “Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” và vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.

Lưu Văn Q là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức được việc sử dụng H1 là trái phép, tuy nhiên “Không đăng ký.… cai nghiện ma túy tự nguyện” do đó Q là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020)

] Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Văn Q là trái quy định của pháp luật, xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền chất ma túy của Nhà nước, hành vi đó không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm khánh kiệt kinh tế gia đình, mà việc sử dụng chất ma túy còn là nguồn gốc, điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác gây mất trật tự trị an địa phương đồng thời gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q để tạo điều kiện cho Q được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, học tập văn hóa, lao động đồng thời để hạn chế tái nghiện ở cộng đồng, giúp Q trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Trong quá trình lập hồ sơ Q đã tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo, do đó xem xét cho Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính, xét Lưu Văn Q có nhân thân xấu, năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bản án đến nay chưa được xóa án tích do đó phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính do đó xem xét khi áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc đối với Q.

Đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện P và đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn Q là có căn cứ, phù hợp được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 103, 104, 105 và Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, khoản 1 Điều 41, Điều 42 và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Lưu Văn Q, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đi chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Phú Lương phối hợp với Công an huyện Phú Lương đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ