vanban.org

Quyết định 44/2022/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2022, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T có hai con chung, là cháu: Trần Thị Kim Ng, sinh ngày: 23/5/2013 và cháu: Trần Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày: 24/02/2021. Khi ly hôn, chị Ngà và anh T tự nguyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T về việc ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2022, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH T
TỈNH BĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/2022/QĐCNTTLH.Vĩnh T, ngày 29 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ

THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ vào Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2022 về việc yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy Ng.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2022 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng, sinh năm: 1990;

Người bị kiện: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1988;

Cùng địa chỉ: Thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh T, tỉnh BĐ.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2022, cụ thể như sau:

- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T có hai con chung, là cháu: Trần Thị Kim Ng, sinh ngày: 23/5/2013 và cháu: Trần Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày: 24/02/2021. Khi ly hôn, chị Ngà và anh T tự nguyện thỏa thuận về việc giao cháu Ng và cháu Tr cho chị Ng nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/cháu/tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2022 trở đi đến khi cháu Ng và cháu Tr đủ 18 (Mười tám) tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom của người đó. Vì lợi ích của con, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản và nợ chung liên quan: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trần Văn T không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xem xét.

- Về các vấn đề khác: Không.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ