vanban.org

Quyết định 44/2022/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 03/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Trí D.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trần Trí D là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trần Trí D được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Trí D.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 44/2022/QĐ-TA
Long xuyên, ngày 03 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Phương;

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Thảo.

Ngày 03 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 43/2022/QĐ-TA ngày 01 tháng 11 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Trần Trí D;

Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1982;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật;

Trình độ văn hóa: 0/12;

Nghề nghiệp: Không có;

Hộ khẩu thường trú: khóm M 1, phường M, thành phố L, tỉnh A.

Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định;

Tiền án: 02 lần (Cố ý gây thương tích và mua bán trái phép chất ma túy)

Tiền sự: 02 lần (Vào năm 2003 và năm 2009, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc);

Con ông: Trần Minh T và bà: Võ Thị M.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Công chức Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh A (theo Văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh A).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L: Ông Kiều Văn Kiều – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 27/10/2022 Công an xã M, thành phố L mời Trần Trí D, sinh năm 1982, khai nơi đăng ký thường trú: khóm M 1, phường M, thành phố L, tỉnh A, nghi vấn sử dụng ma túy trái phép trên địa bàn xã M, để thử Test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với Methamphetamine (Còn gọi là ma túy đá). Quá trình thẩm vấn tại Công an xã M, D thừa nhận có sử dụng ma túy trái phép và đã đi cai nghiện bắt buộc 02 lần vào các năm 2003 và 2009. Phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/10/2022 của Trung tâm Y tế thành phố L, kết luận D có nghiện ma túy. Phiếu trả lời xác minh về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 31/10/2022, Đại úy Nguyễn Thanh Hiền, Phó trưởng Công an phường M, xác nhận: Trần Trí D, sinh năm 1982, có đăng ký thường trú tại khóm M 1, phường M, thành phố L, tỉnh A. Chỗ ở hiện nay: Thường xuyên bỏ địa phương, không nơi cư trú ổn định. Như vậy, ở thời điểm Công an xã M mời thử Test tìm ma túy thì D thuộc diện không nơi cư trú ổn định. Ngày 01/11/2022, UBND xã M ban hành Quyết định số 251/QĐ-QLNN, giao D cho Mẹ ruột là bà Võ Thị M, hiện ngụ khóm M 1, phường M, thành phố L, tỉnh A quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cũng trong ngày 01/11/2022, sau khi đã hoàn tất các thủ tục pháp lý, Chủ tịch UBND xã M đề nghị đưa Trần Trí D đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Trần Trí D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh A với thời hạn 24 tháng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. Trần Trí D có mặt tại phiên họp, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng thực hiện đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. (2) Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Trần Trí D thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Không có. Tình tiết tăng nặng: Không có. (3) Do đó, căn cứ các Điều 95, 96, Điều 103 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Trí D, thời hạn áp dụng từ 15 đến 17 tháng.

- Trần Trí D có đơn khiếu nại, đơn đề ngày 02/11/2022, D trình bày bản thân D có nơi cư trú ổn định và đang sinh sống cùng với mẹ già và hai con nhỏ và đi làm hàng ngày tại địa phương nhưng hồ sơ thể hiện D không nơi cư trú ổn định là không đúng. D yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệp bắt buộc với thời gian 12 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, xét thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L đối với Trần Trí D thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại các Điều 6, 96, 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho Trần Trí D. Tại phiên họp, Trần Trí D có mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Tòa án tiến hành phiên họp theo quy định pháp luật.

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Trần Trí D đã đủ cơ sở xác định Trần Trí D có hai tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Trần Trí D trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; kết quả xác minh nơi cư trú; biên bản vi phạm hành chính. Có đủ căn cứ xác định Trần Trí D là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 27 tháng 10 năm 2022 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L về việc đưa Trần Trí D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm: Không có. Tại phiên họp, D mong muốn xem xét giảm nhẹ để về gia đình chăm sóc vợ con, cha mẹ nhưng lại không có thái độ ăn năn, hối cải.

Căn cứ:

- Điều 6, Điều 95, 96, 103, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 19, các Điều 22, 23, 30, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Trí D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trần Trí D là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trần Trí D được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ